English Thứ Ba, 22-05-2012, 17:32 (GMT+7)

Du lịch Gia Lai

Bản đồ du lịch

Công ty lữ hành

Khu vui chơi & giải trí

Khách sạn & phòng trọ

Nhà hàng, quán ăn

Khu mua sắm, chợ

Ẩm thực Gia Lai

Ngân Hàng - ATM

Liên kết website


Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 2681231
Đang online: 29

Vai trò của già làng trong đời sống xã hội ở Tây Nguyên

Đăng ngày:30-09-2011; 615 lần đọc
Từ khi các dân tộc Tây Nguyên còn sống trong thời kì cổ đại, với hình thức xã hội tự quản, thì những người chủ làng, chủ đất, chủ bến nước đã có vai trò rất lớn trong việc điều hành, quản lí bộ tộc, bộ lạc của mình.

Bộ máy tự quản đó trước tiên có lẽ điều hành theo phong tục tập quán, sau đó là theo luật tục. Trước khi bọn thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, bộ tộc Gia Rai đã có Hỏa xá (Pơtau Pui-vua lửa), Thủy xá (Pơtau Ia-vua nước). Các vị này có ảnh hưởng lớn đến hầu hết các dân tộc ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, Hỏa xá và Thủy xá không mang tính chất quản lí nhà nước, mà thật sự chỉ là những thầy cúng có uy tín, có thể giao tiếp được với đấng thần linh và được tất cả các dân tộc Tây Nguyên nể sợ. Song tất cả chỉ mới dừng lại ở hình thức của pháp luật sơ khai, đã ra đời trong một xã hội chưa phân hóa giai cấp, chưa có nhà nước. Các dân tộc Tây Nguyên nói chung đã trải qua hàng nghìn năm sống trong xã hội tiền quốc gia, tiền nhà nước như thế.

gialang300911.jpggialang300911.jpg
gialang300911.jpg
Vua Lửa thứ 14 Siu A Luynh (đã qua đời năm 1999), người được giữ thanh gươm truyền thống và báu vật của Pơtau Pui. (Ảnh ITN)

 

Đến cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng dựng lên bộ máy cai trị đầu tiên trong các buôn làng. Nhưng đa số các già làng vẫn một lòng bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân tộc, không làm tay sai cho địch. Nhiều tù trưởng, tộc trưởng, già làng người M’Nông, Gia Rai, Ê Đê, Xơ Đăng, Ba Na còn tổ chức làng chiến đấu, chặn đánh nhiều đợt càn quét của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Hỏa xá còn cho người thủ tiêu tên quan Pháp và đám tùy tùng khi chúng ngang nhiên xúc phạm đến uy danh của dân tộc.
Đặc biệt, từ khi có đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vai trò của các già làng càng được phát huy. Các già làng, tù trưởng là những người tiên phong trong phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Trong thời kì chống Mỹ, cứu nước, nhiều già làng là những tấm gương sáng, hướng dẫn cộng đồng sản xuất giỏi, tập hợp quần chúng xây dựng làng chiến đấu, nuôi dưỡng cán bộ, bảo vệ cơ sở cách mạng. Họ đã không tiếc máu xương, của cải, sức lực, ra sức vận động dòng họ, cộng đồng đóng góp cho cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn.
Khi nước nhà thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân được thiết lập trên khắp các buôn làng để quản lí, điều hành xã hội, các già làng hỗ trợ cho chính quyền làm tốt công tác vận động quần chúng, giữ vai trò hòa giải các mâu thuẫn trong cộng đồng.
Trải qua các giai đoạn lịch sử, Di sản văn hóa dân tộc được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có sức sống lâu bền, chính là nhờ các nghệ nhân dân gian - già làng. Các dân tộc Tây Nguyên trải qua nhiều biến cố từ thời kì đồ đá đến thời kì đồ đồng, đồ sắt; từ các tộc người đến khi chia thành các nhóm địa phương; từ chỗ sống biệt lập, khép kín trong các buôn làng, đến khi có những mối giao lưu, quan hệ với các dân tộc khác, và cuối cùng là hòa nhập vào một quốc gia thống nhất. Lịch sử phát triển các tộc người Tây Nguyên hình thành trong tiến trình ấy. Song song với lịch sử phát triển tộc người là lịch sử của một nền văn hóa rất đậm đặc về trữ lượng và thể loại. Từ phương thức sản xuất, đến ăn, mặc, ở, lệ làng, các nghi thức tín ngưỡng, luật tục, nghệ thuật diễn xướng, tiếng nói, chữ viết đều được các già làng bảo vệ, giữ gìn... “Văn hóa cồng chiêng” đã trở thành di sản văn hóa chung của nhân loại, có giá trị đặc biệt trong việc tìm hiểu lịch sử.

 

Các già làng càng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Do truyền miệng là phương thức duy nhất để lưu truyền văn hóa dân gian, các già làng chính là những nghệ nhân dân gian - những pho “sử sống” lưu giữ kho tàng văn hóa quý giá này. Vì vậy, cần đưa di sản văn hóa đó hòa nhập, thích nghi với xã hội mới. Đó là nguồn sữa quý nuôi dưỡng và bổ sung quan trọng cho nền văn hóa hiện đại. Giữ vững được di sản văn hóa dân tộc chính là những “kháng thể” để chống lại sự “xâm lăng” của văn hóa ngoại lai. Ai sẽ là người làm việc đó? Chắc chắn không ai khác là các nghệ nhân dân gian (già làng). Nếu không có họ thì sẽ không có tri thức văn hóa cổ xưa được nuôi dưỡng từ thế hệ này sang thế hệ khác và truyền lại cho đời sau. Chưa kể đến việc họ còn đóng vai trò là “tòa án” truyền thống, góp phần hòa giải, tạo sự đoàn kết, ổn định tình hình ở địa phương.

 

TS Đào Huy Quyền