Y Brơm sinh ra tại xã Lơ Pang, huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai trong một gia đình dân tộc Ba Na. Lên bảy tuổi, Y Brơm đã tập đánh chiêng, hễ ở đâu có đánh chiêng là cậu bé Y Brơm tìm tới. Lên 11 tuổi Y Brơm đã đòi cha mua cho một bộ đàn Kơ ní, đàn Goong và đàn Tơ rưng. Y Brơm thích đàn Kơ ní nhất cho nên chẳng mấy chốc đã sử dụng được thành thạo. Mỗi khi Y Brơm chơi đàn Kơ ní là mọi người lại xúm đến nghe.
Lớn hơn chút nữa cậu bé Y Brơm được anh Mi Im dạy chữ. Hồi ấy chưa có chữ quốc ngữ mà chỉ có cái chữ do ông Nay Đer làm ra để dạy cho đồng bào Ê Đê, Gia Rai và Ba Na. Ông Y Brơm nhớ lại: Hồi đó trong làng đã có một số người Kinh từ đồng bằng lên hoạt động cách mạng, trong số đó có anh Lê Tam sau này là Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai. Các anh dạy Y Brơm hát các bài hát ca ngợi Bác Hồ, ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam và những hiểu biết ban đầu về cách mạng.
Tháng 10.1954, vào lúc lúa rẫy bắt đầu chín, Y Brơm nhận tin được ra Bắc tập kết.
Tháng 9.1955, trong một buổi biểu diễn văn nghệ chung giữa đại biểu các dân tộc, anh Nay Quách thấy Y Brơm múa hay liền tuyển luôn về làm diễn viên của Đoàn Hát, Kịch Tây Nguyên. Cuối năm 1956, Đoàn Hát, Kịch Tây Nguyên được bàn giao cho Bộ Văn hóa quản lý và đổi tên thành Đoàn Ca múa Nhân dân Tây Nguyên. Tháng 11 năm 1956, lần đầu tiên Y Brơm được nhận lương. Có tiền lương, Y Brơm tìm mua ngay chiếc đàn viôlông và quyển sách nhạc. Thời gian này, Y Brơm vừa múa vừa hát lại vừa đóng kịch. Đến năm 1957, Y Brơm thôi không hát để tập trung múa cho giỏi. Anh trở thành diễn viên múa sô lô khá nhất Đoàn và bắt đầu được giao sáng tác những điệu múa mới. Năm 1958, Y Brơm tốt nghiệp Trường Múa, bắt đầu từ đây ông tập trung vào việc biểu diễn và tham gia huấn luyện diễn viên múa cho Đoàn.
Y Brơm kể, vở múa “Kéo pháo” - tác phẩm đầu tay của ông được biểu diễn vào 2.9.1958. Hôm đó Bác Hồ đến xem, tặng hoa và khen ngợi. Tiếp đó năm 1968, Y Brơm dựng vở “Múa trống Tây Nguyên” để biểu diễn cho khách quốc tế xem. Trước khi đi biểu diễn nước ngoài, Bác Hồ đã xem. Xem xong vở diễn, Bác gọi Y Brơm đến bảo: “Cháu giỏi lắm, sau này về dạy lại cho bà con Tây Nguyên nhé!”. Y Brơm xúc động muốn khóc và khắc ghi mãi lời Bác dạy trong suốt cuộc đời mình.
Sau giải phóng, về công tác ở quê hương, Y Brơm đã dành hết tình cảm, tâm huyết của mình cống hiến cho đồng bào Tây Nguyên yêu thương. Các tác phẩm “Múa trống Tây Nguyên”, “Múa Khiêl”, “Múa giã gạo đêm trăng” của Y Brơm đoạt giải thưởng Nhà nước. Ngoài ra, ông còn có hàng chục tác phẩm khác đoạt giải cao trong nước và quốc tế. Y Brơm là 1 trong 3 nghệ sĩ múa được phong tặng danh hiệu NSND đầu tiên năm 1984.
Trong suốt cuộc đời cống hiến cho nghệ thuật, NSND Y Brơm luôn hành động với một phương châm, đó là khôi phục, bảo tồn và phát triển. Với suy nghĩ như vậy nên NSND Y Brơm luôn cố gắng truyền dạy những gì mình thu lượm và chắt lọc được cho các thế hệ đi sau.
Bây giờ đã bước sang tuổi 71, nhưng NSND Y Brơm vẫn tha thiết cống hiến cho việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Từ việc tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận của UNESCO về Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đến việc tổ chức Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai đều có sự góp công không nhỏ của NSND Y Brơm. Đặc biệt, ông vẫn lặn lội khắp nơi giúp cho lớp trẻ ở Tây Nguyên biết đánh chiêng, biết Xoang và biết giữ gìn những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống đặc sắc.
Không chỉ có miệt mài với những điệu múa Xoang, với Cồng chiêng mà giờ đây người nghệ sĩ hơn 70 tuổi này đang cùng với những người nghệ sĩ tâm huyết khác bắt tay vào một dự án khá công phu nhưng cũng đầy ý nghĩa. Vợ chồng nghệ sĩ Y Brơm cùng với nhạc sĩ Lê Xuân Hoan, hiện đang là Giám đốc Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Gia Lai thực hiện đề tài sưu tầm, biên soạn và bảo tồn những làn điệu dân ca cổ của dân tộc Ba Na.
Mặc dù tóc đã bạc, gối đã mỏi, nhưng người nghệ sĩ, người con của đại ngàn Tây Nguyên cho rằng, đã là người nghệ sĩ thì không có nghỉ hưu. Muốn cho tác phẩm của mình không lỗi thời thì tác phẩm phải có cái mới. Nếu không đi nằm vùng, không cùng ăn cùng ở với đồng bào thì tự mình lạc hậu. Với suy nghĩ như vậy nên người nghệ sĩ già này vẫn đều đặn xuống xã uống rượu cần và đánh cồng chiêng với đồng bào.