- Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2005 - 2010:
1. Kinh tế đạt được những kết quả quan trọng, các nguồn lực được phát huy, các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển.
- Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực.
Tốc độ tăng t
rưởng GDP bình quân 13,6%/năm, vượt 1,1% so với mục tiêu đã đề ra. Đến năm 2010, quy mô nền kinh tế gấp 3,24 lần so với năm 2005; GDP bình quân đầu người đạt 14,54 triệu đồng, gấp 2,82 lần so với năm 2005, gấp 0,68 lần so với mục tiêu đã đề ra.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, đến nay tỷ trọng nông- lâm nghiệp chiếm 39,84%, công nghiệp- xây dựng chiếm 32,08%, dịch vụ chiếm 28,07%; so với đầu nhiệm kỳ tỷ trọng nông- lâm nghiệp giảm 8,66%, công nghiệp- xây dựng tăng 8,6%, dịch vụ tăng 0,58%.
- Các vùng kinh tế được đầu tư, phát triển theo quy hoạch.
Vùng động lực như thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa, huyện Chư Sê được chú trọng đầu tư bằng nhiều nguồn vốn nên tốc độ tăng trưởng khá. Cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch nhanh và tích cực. Công nghiệp chế biến, thương mại- dịch vụ, kết cấu hạ tầng tiếp tục phát triển. Thành phố Pleiku được công nhận là đô thị loại II, huyện Ayun Pa được chia tách thành lập thị xã Ayun Pa.
Vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng được tăng cường đầu tư lồng ghép bằng nhiều nguồn vốn, 12 xã nghèo ở 3 huyện vùng căn cứ cách mạng: Kbang, Kông Chro và Krông Pa triển khai đầu tư phát triển, tập trung vào các mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cấp và cải thiện các công trình kết cấu hạ tầng chủ yếu, khai thác tiềm năng về đất đai, phát triển sản xuất, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
2. Lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được những kết quả quan trọng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên.
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đầu tư và phát triển.
Giáo d
ục và đào tạo tiếp tục phát triển và đạt được một số kết quả quan trọng. Quy mô các bậc học, ngành học và hệ thống trường lớp tăng nhanh. Chất lượng giáo dục được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp tăng đều qua các năm; nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt mục tiêu đề ra; tỷ lệ huy động trẻ em đi học ở lứa tuổi mẫu giáo đạt trên 96%, ở lứa tuổi tiểu học đạt trên 97%. Giáo dục nghề có bước phát triển, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên qua các năm, đến nay đạt 30%, vượt 3% so với mục tiêu đề ra. Cơ sở vật chất được tăng cường, các chương trình quốc gia về giáo dục được triển khai tích cực. Công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập và xã hội hóa giáo dục đạt những kết quả quan trọng. Đội ngũ giáo viên được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu dạy và học.
Hoạt động khoa học và công nghệ được quan tâm, đã chú trọng nghiên cứu triển khai và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững quốc phòng- an ninh. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
- Công tác chăm sóc sức khỏe và phòng - chống dịch bệnh cho nhân dân đạt được một số kết quả tích cực.
Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe được quan tâm, nhất là các đối tượng thuộc diện chính sách và người nghèo. Công tác giám sát, phòng - chống dịch bệnh được triển khai đồng bộ, hiệu quả, không để xảy ra dịch lớn. Các ch
ương trình quốc gia về y tế thực hiện có kết quả, các bệnh xã hội, dịch bệnh đều giảm; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 8% so với năm 2005; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đủ liều đạt 95%, đạt mục tiêu đề ra. Hệ thống y tế được củng cố và tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang - thiết bị y tế được đầu tư phục vụ tốt hơn yêu cầu khám - chữa bệnh cho nhân dân. Chất lượng dịch vụ y tế, kể cả y học hiện đại và y học cổ truyền được nâng lên. Đội ngũ cán bộ y tế tăng về số lượng và chất lượng, đến nay đạt 5,2 bác sĩ/vạn dân; tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ đạt 60%. Chủ trương xã hội hóa y tế được chú trọng triển khai.
- Văn hóa - thông tin, thể dục thể thao phát triển và ngày càng nâng cao về chất lượng.
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng làng văn hóa được triển khai có hiệu quả. Công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phá
t huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc đạt được một số kết quả tích cực. Nhiều sự kiện văn hóa có ý nghĩa về chính trị - xã hội và nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh được tổ chức thành công, tạo nên không khí vui tươi, phấn khởi trong cộng đồng các dân tộc trong tỉnh.
Các hoạt động báo chí, phát thanh truyền hình, xuất bản phát triển đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng lên, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị. Báo Gia Lai, Đài Phát thanh-Truyền hình đã có nhiều chuyên trang, chuyên mục phong phú và chất lượng, nhất là đã tăng số lượng, thời lượng và chất lượng các ấn phẩm, chuyên mục bằng tiếng Bahnar, Jrai. Văn học nghệ thuật không ngừng phát triển, đã có một số tác phẩm văn học, nghệ thuật đạt giải trong và ngoài nước.
Các hoạt động thể dục thể thao thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, phong trào thể dục thể thao tiếp tục mở rộng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư theo hướng xã hội hóa. Tỷ lệ dân tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 25%, tăng 6,5% so với năm 2005.
- Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên.
Chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên rõ rệt, GDP bình quân đầu người năm 2010 gấp 2,82 lần so với năm 2005. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được nhiều kết quả quan trọng; đã huy động có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các nguồn lực vì mục tiêu giảm nghèo, nên tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 29,8% (năm 2005) xuống còn 10,8% (năm 2010), vượt 8,2% so với mục tiêu đề ra. Số lao động được giải quyết việc làm 2,2 vạn người/năm và xuất khẩu lao động được 3.160 người.
Thực hiện chính sách với người và gia đình có công với cách mạng, chính sách an sinh xã hội đạt kết quả thiết thực. Đời sống vật chất, tinh thần và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng khá hơn; 100% xã có điện thoại, đạt 20 thuê bao cố định/100 dân; 100% thôn, làng, 95% số hộ được dùng điện; 80% dân cư nông thôn dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 95% số hộ được xem truyền hình; gần 100% số hộ được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam; 85% hộ gia đình văn hóa, 75% thôn, làng, tổ dân phố văn hóa.
Thực hiện chính sách dân tộc đạt được một số kết quả quan trọng. Đã huy động nhiều nguồn lực, lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu, dự án, ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bộ mặt nông thôn chuyển biến tích cực; đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt được quan tâm giải quyết; nhà ở tạm bợ, dột nát giảm nhanh. Đến nay 99,2% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số được định canh định cư, mặt bằng dân trí được nâng lên; đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ được quan tâm đào tạo. Văn hóa truyền thống của các dân tộc được gìn giữ và phát huy; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố, ngăn chặn có hiệu quả hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết, làm mất ổn định chính trị - xã hội của các thế lực thù địch, an ninh - quốc phòng được giữ vững.
- Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được chú trọng.
Công tá
c quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản ngày càng nền nếp hơn, hạn chế được lãng phí, thất thoát tài nguyên thiên nhiên. Công tác điều tra cơ bản, quy hoạch cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường đạt được những kết quả bước đầu. Công tác thanh tra, kiểm tra về tài nguyên môi trường đã góp phần ngăn chặn và hạn chế các vi phạm xảy ra. Việc xử lý ô nhiễm môi trường được chú ý hơn. Công tác phòng tránh và khắc phục hậu quả thiên tai được quan tâm chỉ đạo và đã hạn chế được nhiều thiệt hại do bão lũ gây ra. Nhận thức về bảo vệ môi trường của các tầng lớp nhân dân và các doanh nghiệp được nâng lên.
Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện các nhiệm vụ giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020
Bước vào giai đoạn 2010-2015, tỉnh Gia Lai đang đứng trước những thuận lợi, thời cơ lớn, nhưng cũng đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ đan xen, đó là: Trên thế giới, sau khủng hoảng, kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn nhiều yếu tố rủi ro, bất trắc, tình trạng biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... diễn biến phức tạp tiếp tục tác động đến nước ta.
Trong nước, những thành tựu, kinh nghiệm của 25 năm đổi mới đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, thế và lực của đất nước trên trường quốc tế không ngừng lớn mạnh. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế - xã hội của nước ta còn thấp; chênh lệch giàu nghèo còn lớn và có xu hướng tăng; tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn nghiêm trọng; các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá nhằm gây mất ổn định chính trị- xã hội... Đây là những nguy cơ, thách thức lớn đối với đất nước ta trong những năm tới.
Kế thừa những thành tựu đã đạt được, những kinh nghiệm từ thực tiễn, tranh thủ tối đa tiềm năng và lợi thế, huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển là những nhân tố thuận lợi cơ bản trong thời gian tới. Nhưng Gia Lai vẫn đang đối mặt với những khó khăn thách thức đó là quy mô nền kinh tế còn nhỏ, sức cạnh tranh và hội nhập nền kinh tế còn thấp, các lợi thế so sánh dần dần bị thu hẹp, khoảng cách về kinh tế - xã hội giữa các vùng ngày càng lớn, an ninh chính trị và trật tự xã hội còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp... Đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải đoàn kết một lòng, ra sức phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức để hội nhập, phát triển, giữ vững ổn định về chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.
I- Phương hướng tổng quát
Tiếp tục huy động mọi nguồn lực, khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư với các địa phương trong nước và nước ngoài để phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp và hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Xây dựng tỉnh Gia Lai thành một tỉnh phát triển mạnh về kinh tế - xã hội, ổn định quốc phòng - an ninh, tiến tới trở thành vùng năng động trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
II- Mục tiêu của giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020
1. Mục tiêu định hướng đến năm 2020.
Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11,7% trở lên. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông - lâm nghiệp.
Tăng nhanh về quy mô, tốc độ, chất lượng, hiệu quả và tăng cường sức cạnh tranh, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh đầu tư phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về văn hóa giáo dục, chăm sóc sức khỏe, tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Phấn đấu giảm nhanh hộ nghèo, thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư. Tăng cường quốc phòng - an ninh, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
2. Mục tiêu chủ yếu của giai đoạn 2010 - 2015.
Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 12,8% trở lên. Coi trọng hiệu quả kinh tế, phát triển chiều sâu, tiết kiệm tài nguyên trong quá trình phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng mạnh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tiếp tục phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng kết hợp giữa mở rộng quy mô với nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi. Phát triển các ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ và xuất khẩu một cách hiệu quả, bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống. Phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Phấn đấu đến năm 2015 Gia Lai thoát khỏi tỉnh nghèo và GDP bình quân đầu người đạt mức trung bình của cả nước. Nâng cao dân trí, chú trọng bồi dưỡng nhân tài và tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục. Tạo cơ hội cho mọi người dân được hưởng thụ các dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao, chăm sóc sức khỏe và tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng cao. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ. Từng bước thực hiện công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Một số chỉ tiêu chủ yếu: Phấn đấu đến năm 2015: Quy mô GDP theo giá hiện hành đạt 48.500 tỷ đồng (tính theo giá so sánh năm 1994 đạt 12.300 tỷ đồng); GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 34,2 triệu đồng (tương đương với 1.622 USD) gấp 2,35 lần năm 2010 (tính theo giá so sánh năm 1994 gấp 1,6 lần). Cơ cấu GDP: Ngành nông - lâm nghiệp chiếm 33%, ngành công nghiệp-xây dựng chiếm 36,7%, dịch vụ chiếm 30,3%. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 4.900 tỷ đồng, gấp 2,13 lần so với năm 2010. Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 250 triệu USD. Độ che phủ của rừng (gồm cả cây cao su) đạt 53,1%. Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,29%. Giải quyết việc làm cho 2,3 vạn lao động/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%. Xây dựng 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, 100% xã hoàn thành quy hoạch nông thôn mới, thu nhập dân cư nông thôn tăng 1,5 lần so với hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo trong nông thôn còn 2,4%. Giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 2% (theo tiêu chí hiện nay). Số xã có bác sĩ đạt 80%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 20%; hầu hết các hộ đều được sử dụng điện, được xem truyền hình; 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.
III- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:
1. Phát triển nông - lâm nghiệp toàn diện theo hướng bền vững, giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
Phấn đấu giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp tăng bình quân 6,2%/năm. Triển khai rà soát, bổ sung quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành và quy hoạc
h chi tiết các loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp. Phát triển nông-lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao. Xây dựng các mô hình sản xuất tập trung gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và các mô hình sản xuất phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục chuyển đổi rừng nghèo, diện tích đất trống và đất nông nghiệp hiệu quả thấp sang trồng cao su để đến năm 2015 tổng diện tích cây cao su của tỉnh đạt 122.500 ha. Mở rộng diện tích cây tiêu đến năm 2015 đạt 5.300 ha. Áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm
nông nghiệp; đặc biệt chú trọng ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học trong chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả. Phát triển quy mô đàn gia súc, đẩy mạnh chương trình lai cải tạo đàn bò, nạc hóa đàn heo, phát triển đàn dê và đàn gia cầm. Khuyến khích phát triển các trang trại chăn nuôi theo mô hình công nghiệp và giết mổ gia súc tập trung. Đồng thời nghiên cứu bảo tồn các nguồn gen động vật và thực vật hiện có trên địa bàn tỉnh.
Giữ vững diện tích rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ để góp phần bảo đảm cân bằng sinh thái. Phát triển toàn diện, bền vững cả 3 loại rừng, tăng diện tích rừng trồng và độ che phủ của rừng. Phấn đấu đến năm 2015 trồng mới 20.700 ha rừng. Tiếp tục thực hiện chương trình xã hội hóa nghề rừng, đẩy mạnh giao khoán rừng, quản lý bảo vệ rừng.
2. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp - xây dựng nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phấn đấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 16,9%/năm
. Tập trung phát triển, hiện đại hóa những ngành công nghiệp có lợi thế so sánh và tác động mạnh đến sự phát triển nhanh, bền vững như: Công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng (thủy điện, phong điện, năng lượng mặt trời), khai khoáng sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí.
Phát triển mạnh các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, phục vụ sản xuất và chế biến các sản phẩm nông - lâm nghiệp có lợi thế của tỉnh như cao su, cà phê, hồ tiêu...; sản xuất phân bón, thức ăn gia súc; đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp. Phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách hiệu quả. Tạo điều kiện cho các ngành tiểu - thủ công nghiệp phát triển. Tiếp tục đầu tư phát triển các khu - cụm công nghiệp ở các huyện, thị xã.
Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại. Rà soát, bổ sung, điều chỉnh và áp dụng các chính sách ưu đãi, thu hút vốn đầu tư vào tỉnh nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng các hoạt động hợp tác đầu tư cả trong nước và nước ngoài, nhất là thị trường các tỉnh đông bắc Campuchia và hạ Lào.
3. Nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ.
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành dịch vụ đạt 14,9%. Xây dựng hệ thống thương mại - dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại, mở rộng quan hệ hợp tác, đầu tư giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh. Phát triển các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ và hợp tác xã cung ứng dịch vụ trên địa bàn tỉnh, mở rộng mạng lưới thương mại ở vùng sâu, vùng
xa.
Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa xuất khẩu, nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp và chất lượng sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng chủ lực của tỉnh trên thị trường thế giới. Vận dụng các chính sách phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu và khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng truyền thống vào các thị trường mới.
Chú trọng phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế, theo hướng hiện đại như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, công nghệ thông tin, giao thông vận tải.
Khuyến khích và hỗ trợ phát triển các dịch vụ giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, thể thao; dịch vụ việc làm và an sinh xã hội. Tích cực kêu gọi đầu tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển các loại hình du lịch, nhất là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, lịch sử phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Nâng cao chất lượng hoạt động của các loại hình du lịch hiện có và phát triển mạnh các loại hình mới. Mở rộng hợp tác liên kết du lịch giữa Gia Lai với các tỉnh, thành trong nước và các nước trong khu vực.