English Thứ Sáu, 18-05-2012, 05:48 (GMT+7)

Giới thiệu

Tin tức

Liên kết website


Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 2656105
Đang online: 16

Báo cáo số 90/BC-UBND: Kết quả 05 năm thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.

Đăng ngày:20-09-2011; 3020 lần đọc
  Ngày 16 tháng 9 năm 2011, UBND tỉnh Gia Lai đã có Báo cáo số 90/BC-UBND,gửi Bộ Tài chính, lãnh đạo UBND tỉnh, các cơ quan, đơn vị liên quan trong tỉnh, Website tỉnh Gia Lai trích đăng nguyên văn nội dung chính của Báo cáo như sau:

 

                                                                             BÁO CÁO
Kết quả 05 năm thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006
của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
 
Thực hiện Công Văn 9911/BTC-NSNN ngày 27/7/2011 của Bộ Tài chính về việc báo cáo kết quả 05 năm thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ; Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai tổng hợp báo cáo về việc thực hiện Nghị định 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ theo từng lĩnh vực như sau:
I/ Tình hình phát triển làng nghề nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010:
1/ Đánh giá chung:
Trong những năm qua, tỉnh Gia Lai đã triển khai một số chương trình cụ thể để góp phần duy trì và phát huy ngành nghề nông thôn cả về cơ chế chính sách và vốn đầu tư. Tỉnh cũng đã triển khai thực hiện Nghị định 66/NĐ-CP và đã đạt được nhiều kết quả kết quả khả quan. Tuy nhiên, đây là những bước đi đầu tiên trong việc bảo tồn và phát triển ngành nghề nông thôn. Để đạt được mục tiêu đề ra, cần phải có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền địa phương trong tỉnh, cần có quy hoạch, phương hướng và lộ trình cụ thể cho nhiệm vụ quan trọng này.
Việc phát triển ngành nghề nông thôn trong những năm qua chưa được sự quan tâm đúng mức của các ngành các cấp, chưa có các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, nên tốc độ tăng trưởng còn chậm, hiệu quả kinh tế thấp so với tiềm năng của tỉnh và nhu cầu xã hội. Số lượng các cơ sở ngành nghề chưa cân đối trên các vùng, quy mô sản xuất nhỏ, chưa khai thác tối đa được tiềm năng lao động và nguồn vốn dư thừa trong dân, trình độ công nghệ lạc hậu, mẫu mã và chất lượng sản phẩm chưa có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
2/ Đánh giá tình hình thực hiện Nghị định:
Việc triển khai thực hiện Nghị định số 66/NĐ-CP ngày 07/7/2006 trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã đạt được những kết quả: các làng nghề bước đầu được khôi phục, hình thành và dần đi vào hoạt động ổn định, cơ sở hạ tầng làng nghề được củng cố và đầu tư; các tổ chức, cá nhân tham gia tập trung đầu tư sản xuất nên sản phẩm ngày càng đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trên địa bàn, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện phân công lại lao động xã hội, xóa đói giảm nghèo và ổn định an ninh chính trị tại địa phương.
3/ Những kết quả đạt được:
Trong những năm qua, nông nghiệp nông thôn đã có vai trò tích cực đối với kinh tế xã hội của tỉnh, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lao động, dân cư và hỗ trợ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.
Ngành nghề nông thôn phát triển đã tác động tích cực đến quá trình phân công lại lao động, thu hút nhiều nghệ nhân về nghề truyền thống và những người có trình độ tay nghề cao, thu hút được đông đảo lực lượng lao động trẻ từ sản xuất nông nghiệp chuyển sang làm việc tại các làng nghề, các hợp tác xã dịch vụ, các cụm, cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ, các cơ sở sản xuất cơ khí rèn, hàn gò, sản xuất vật liệu xây dựng, đan lát, dệt may, chế biến nông lâm sản...
Những đề tài, dự án đưa ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đã  làm nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, góp phần tích cực vào việc phát triển các ngành nghề nông thôn.
UBND tỉnh đã có chương trình đầu tư, hỗ trợ xây dựng 02 làng nghề nông thôn của đồng bào dân tộc thiểu số tại 2 xã: xã Chư Á (Tp.Pleiku) và xã Ia Phìn (huyện Chư Prông). Quy mô làng nghề được xây dựng gồm khu nhà sàn, giếng nước, bể nước, sân bê tông và đường giao thông... với tổng giá trị gần 02 tỷ đồng từ nguồn vốn bổ sung có mục tiêu khác của tỉnh (năm 2007).
Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 1.000 cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản ở nông thôn và 09 làng nghề đang hoạt động. Trong đó:
- Cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản ở nông thôn: xay xát gạo: 250 cơ sở; mộc gia dụng: 97 cơ sở; làm thợ nề: 55 cơ sở; mua bán lâm sản: 16 cơ sở; sản xuất gạch ngói: 16 cơ sở; sấy thuốc lá: 150 cơ sở; sản xuất nấm ăn và nguyện liệu: 04 cơ sở; dệt thổ cẩm: 07 cơ sở; đan lát mây tre lá: 02 cơ sở; nuôi ươm cá giống: 50 cơ sở; nuôi cá thương phẩm: 200 cơ sở; dịch vụ (rèn, cơ khí nhỏ, sửa chữa, mua bán vật tư): 115 cơ sở.
- Làng nghề: Có 03 làng nghề sản xuất bẹ chuối, mây tre đan; 03 làng nghề dệt thổ cẩm; 02 làng nghề dệt thổ cẩm và sản xuất gỗ, đá mỹ nghệ; 01 làng nghề sản xuất các loại nhạc cụ dân tộc. Số lao động sản xuất tại các làng nghề từ 80 đến 200 người, quy mô sản xuất chủ yếu theo hộ gia đình (chưa có làng nghề nào được công nhận).
Biêu 01: Danh sách làng nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai (làng có nghề)
 
TT
Tên làng nghề
Địa chỉ
Loại hình
Số hộ SX/tổng số hộ trong làng
01
HTX Thảo Nguyên
Xã Ia Phìn, huyện Chư Prông
Bẹ chuối, mây, tre đan
80/500
02
HTX Nông nghiệp và Dệt thổ cẩm Glar
Xã Glar, huyện Đăk Đoa
Dệt thổ cẩm
150/1.000
03
HTX Nhạc cụ dân tộc Thắng Lợi
Phường Thắng Lợi, Tp. Pleiku
Các loại nhạc cụ dân tộc
50/1.200
04
HTX sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Kon Dỡng
Thị trấn Kon Dỡng, huyện Mang Yang
Dệt thổ cẩm
70/600
05
HTX công nông nghiệp Đăk Kơ Ning
Xã Đăk Kơ Ning, huyện Kon Chro
Mây, tre đan
150/800
06
HTX công nông nghiệp và dịch vụ Linh H' Nga
Xã Ia Le, huyện Chư Pưh
Dệt thổ cẩm, gỗ, đá mỹ nghệ
100/600
07
HTX công nông nghiệp Ia Lâu
Xã Ia Lâu, huyện Chư Prông
Bẹ chuối, mây, tre đan
150/500
08
HTX Ia Dom
Xã Ia Dom, huyện Đức Cơ
Gia công gỗ mỹ nghệ, dệt thổ cẩm
Đang xây dựng thành lập
09
HTX Hà tam
Xã Hà Tam, huyện Đăk Pơ
Dệt thổ cẩm
Đang xây dựng thành lập
 
II/ Tổng số làng nghề, cụm cơ sở:
Trong giai đoạn 2007- 2010, tỉnh đã đầu tư xây dựng 07 cơ sở hạ tầng làng nghề từ nguồn vốn có mục tiêu của Chính phủ và nguồn vốn ngân sách của địa phương với tổng kinh phi 8.158,83 triệu đồng. Cụ thể:
- Năm 2007, hỗ trợ đầu tư xây dựng 02 cơ sở hạ tầng làng nghề truyền thống tại xã Chư Á, Tp. Pleiku và xã Ia Phìn, huyện Chư Prông với kinh phí 1.717,8 triệu đồng.
- Năm 2008, hỗ trợ đầu tư xây dựng 02 cơ sở hạ tầng làng nghề truyền thống tại xã Glar, huyện Đăk Đoa và thị trấn Kon Dỡng, huyện Mang Yang với kinh phí 2.247 triệu đồng.
- Năm 2009, hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề xã Ia Lâu, huyện Chư Prông, với kinh phí 2.268 triệu đồng.
- Năm 2010, hỗ trợ đầu tư xây dựng 02 cơ sở hạ tầng làng nghề truyền thống xã Đăk Kơ Ning, huyện Kông Chro và xã Ia Le, huyện Chư Pưh với kinh phí 1.926,03 triệu đồng.
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hoạt động khoa học công nghệ và ứng dụng, hoạt động thông tin tuyên truyền, hỗ trợ hoạt động đào tạo các cơ sở ngành nghề nông thôn trực tiếp mở lớp tuyên truyền (có biểu mẫu kèm theo).
III/ Khó khăn, tồn tại và nguyên nhân:
1. Những khó khăn, tồn tại:
- Các nghề, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Gia Lai chủ yếu là phát triển tự phát, manh mún, quy mô nhỏ lẻ.
- Sản phẩm của nghề truyền thống và làng nghề truyền thống chỉ tự sản, tự tiêu chứ chưa tham gia nhiều vào nền kinh tế thị trường.
- Lao động làm nghề truyền thống chỉ có một số rất ít được đào tạo bài bản theo trường lớp, phần lớn chủ yếu là do ông bà, cha mẹ, các nghệ nhân truyền nghề lại.
- Thị trường kém, năng suất thấp, giá thành sản phẩm cao, mẫu mã kém; không có các nghề cao cấp, tinh xảo không có sức cạnh tranh; lợi thế so sánh với nghề nông không lớn.
            - Đời sống của nông dân nông thôn còn nhiều khó khăn, chưa có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất của nghề và làng nghề.
            - Trình độ dân trí còn thấp nên hạn chế việc học tập và phát huy các ngành nghề nông thôn.
            - Kinh phí đầu tư còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu thực tế để duy trì và phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh, chưa có quy hoạch, phương hướng và lộ trình về bảo tồn và phát triển làng nghề.
2. Nguyên nhân tồn tại:
- Trình độ của người dân lao động còn thấp, thiếu kỹ năng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, chưa tiếp cận tốt với thị trường.
- Kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động làng nghề còn hạn chế, chưa thường xuyên; chưa thực hiện tốt việc lồng ghép vào một số chương trình khác.
- Trong những năm qua, ngành nghề nông thôn chưa có quy hoạch, chủ yếu là phát triển tự phát, quy mô nhỏ lẻ, chưa có định hướng sản xuất hàng hóa.
- Mặc dù, Ủy ban nhân dân tỉnh có nhiều văn bản chỉ đạo, đẩy mạnh việc bảo tồn và phát triển ngành nghề nông thôn nhưng sự quan tâm triển khai thực hiện của các cấp, các ngành còn quá chậm và thiếu sâu sát.
IV/ Đề xuất, kiến nghị với Trung ương:
- Quan tâm đầu tư kinh phí cho việc bảo tồn và phát triển các làng nghề ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng; có cơ chế chính sách cụ thể để cho các làng nghề vay vốn dài hạn theo chính sách ưu đãi của Nhà nước. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn để đáp ứng yêu cầu phát triển làng nghề.
- Cần kết nối với thị trường toàn quốc, có giải pháp xuất khẩu sản phẩm; hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm từ làng nghề ở nông thôn.
- Lập dự án khôi phục các làng nghề truyền thống, nghề truyền thống đang hoạt động kém, đồng thời có kế hoạch mở rộng làng nghề truyền thống đang hoạt động tốt.
- Thành lập các hiệp hội nghề nghiệp, các quỹ bảo lãnh tín dụng và Hội đồng các làng nghề để phát huy những điểm mạnh và hạn chế các điểm yếu của làng nghề, đồng thời là diễn đàn trao đổi, bàn bạc về chuyên môn, để cùng phát triển.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trong việc thu mua nguyên liệu, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước bằng cách ưu tiên về quảng cáo, triển lãm, cung cấp thông tin về thị trường...
- Khuyến khích thành lập các đơn vị, cơ sở, tổ chức làm đầu mối tiêu thụ sản phẩm của ngành nghề nông thôn để đưa ra thị trường. Hỗ trợ các cơ sở trong việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm thông qua các chương trình kinh tế xã hội, các trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ...
- Tăng cường công tác khuyến công nhằm vào các làng nghề, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tư vấn và vốn khuyến công cho các cơ sở ở các làng nghề bằng vốn từ ngân sách.
Trên đây là báo cáo kết quả 05 năm thực hiện Nghị định số 66/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai báo cáo để Bộ Tài chính xem xét, tổng hợp./.
 

 

                                                                      TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
                                                                                  KT. CHỦ TỊCH
                                                                                   PHÓ CHỦ TỊCH
                                                                                      (Đã ký)

                                                                                 Hoàng Công Lự

 

(Có đính kèm File)

phu luc dinh kem.docphu luc dinh kem.doc

UBND tỉnh Gia Lai

Bản đồ hành chính

Thông tin thời tiết (18-05-2012)

KV phía tây tỉnh (Chư Pah, Ia Grai, Chư Prông, Chư Sê, Chư Pưh, Đak Đoa, Đức Cơ và TP. Pleiku) Mây thay đổi, ngày nắng, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi. Gió đổi hướng cấp 2 cấp 3. Nhiệt độ từ 22-330C
KV đông-đông bắc tỉnh (các huyện Mang Yang, Đak Pơ, Kbang, Kông Chro và thị xã An Khê) Mây thay đổi, có mưa rào và dông vài nơi về chiều tối và đêm. Ngày trời nắng. Gió đổi hướng cấp 2, cấp 3. Nhiệt độ từ 22-340C
KV đông nam tỉnh (Các huyện Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa và thị xã Ayun Pa) Mây thay đổi, ngày trời nắng nóng, chiều tối và đêm có dông và mưa rào vài nơi. Gió nhẹ. Nhiệt độ từ 23-370C