English Thứ Sáu, 19-12-2014, 15:29 (GMT+7)

Giới thiệu

Tin tức

Liên kết website


Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 12734140
Đang online: 39

BÁO CÁO SỐ 50/BC-UBND :Sơ kết giai đoạn I thực hiện Chương trình PBGDPL của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012

Đăng ngày:26-05-2011; 1638 lần đọc
​        Ngày 25/5/2011, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Báo cáo số 50/BC-UBND Về Sơ kết giai đoạn I thực hiện Chương trình PBGDPL của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012.

Ngày 25/5/2011, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Báo cáo số 50/BC-UBND Về Sơ kết giai đoạn I thực hiện Chương trình PBGDPL của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012.

 

Website UBND tỉnh trích đăng nguyên văn nội dung chính của Báo cáo như sau:

          I. Kết quả thực hiện Chương trình

          1. Tình hình ban hành văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chương trình

          Các cơ quan chủ trì thực hiện Đề án đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc ban hành các Quyết định kèm Kế hoạch thực hiện Đề án; thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án nhằm phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong việc triển khai thực hiện từng Đề án. Cụ thể, trong 02 năm Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành:

          - Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND ngày 29/5/2008 về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định 37/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phổ biến pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012;

- 04 Quyết định kèm theo Kế hoạch thực hiện và 04 Quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án.

* Giữa các cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp thực hiện Đề án đã có sự phối kết  hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện Đề án thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai, đôn đốc thực hiện Đề án.

* Các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tích cực trong việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc xây dựng, thực hiện hương ước của thôn, làng, bản, ấp, quy chế của cơ quan, điều lệ của các tổ chức đoàn thể xã hội; thực hiện lồng ghép công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; phát động các đợt cao điểm, tháng cao điểm trong việc thực hiện, chấp hành pháp luật; xây dựng các điểm sáng về chấp hành pháp luật ở cộng đồng dân cư;…

          Nhìn chung, công tác ban hành các văn bản chỉ đạo và triển khai thực hiện được UBND tỉnh quán triệt nghiêm túc; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương trong công tác PBGDPL, từ đó góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh về vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, nâng cao dân trí pháp lý, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

          2. Đối tượng, nội dung, hình thức, biện pháp PBGDPL

          2.1. Đối tượng, nội dung được PBGDPL

Xuất phát từ tình hình thực hiện, chấp hành pháp luật cũng như nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân, các cơ quan, đơn vị đã lựa chọn nội dung tuyên truyền phù hợp với trình độ dân trí, tập trung vào các lĩnh vực liên quan chủ yếu đến đời sống của nhân dân như: pháp luật về đất đai; trình tự, thủ tục tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; an toàn giao thông; bảo vệ môi trường; bảo vệ rừng; phòng chống các tệ nạn xã hội; các chính sách, chế độ mà người dân được hưởng, các nghĩa vụ mà người dân phải thực hiện; quy định về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; chính sách về dân tộc, tôn giáo; an ninh biên giới; các thủ tục về giao đất, giao rừng; hôn nhân và gia đình; chăm sóc, giáo dục trẻ em; phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em;…Các văn bản pháp luật mới ban hành đều được triển khai phổ biến kịp thời trong cán bộ và nhân dân.

          Hàng năm, UBND tỉnh đều ban hành Quyết định phê duyệt Chương trình PBGDPL, tập trung vào 5 đối tượng ưu tiên là các tầng lớp nhân dân nói chung, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số; cán bộ, công chức; thanh thiếu niên; người lao động, người quản lý và cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp; cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang.

          2.2. Hình thức, biện pháp tuyên truyền

Một số hình thức PBGDPL có hiệu quả thiết thực đã áp dụng như: Đối thoại trực tiếp thông qua công tác tiếp xúc cử tri, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật và mô hình Câu lạc bộ “Tuyên truyền pháp luật và phòng chống tội phạm”, “Trợ giúp pháp lý”; thông qua công tác “Vận động quần chúng chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư”; công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền các cấp và công tác hoà giải ở cơ sở; biên dịch, thu băng cassette phát qua hệ thống loa truyền thanh lưu động hoặc qua máy cassette trong các buổi họp dân,...

+ Đối với đối tượng là các tầng lớp nhân dân chú trọng kết hợp công tác phổ biến pháp luật trên diện rộng với công tác tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hoà giải các tranh chấp, khiếu kiện của công dân; lồng ghép hợp lý công tác PBGDPL với tổ chức thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội ở địa phương. Biên soạn, phát hành tài liệu, tờ rơi, tờ gấp pháp luật; sử dụng đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật là các già làng, trưởng thôn để thực hiện việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật; phổ biến pháp luật thông qua hội nghị triển khai văn bản pháp luật mới; xây dựng chuyên mục tìm hiểu pháp luật dưới hình thức hỏi - đáp pháp luật. Các huyện, thị xã, thành phố; các Sở, ban, ngành phụ trách xã trọng điểm đã chú trọng xây dựng các điểm sáng” chấp hành pháp luật; phát động phong trào “Toàn dân thực hiện tốt pháp luật” theo các tiêu chí chung: Thôn, làng, không có người vi phạm pháp luật; Không có khiếu kiện trái pháp luật, đông người, kéo dài; Không có người vượt biên trái phép…

+ Đối với nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa còn được hướng dẫn sâu hơn về trình tự, thủ tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, giao đất, giao rừng, giải toả đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; các quy định của pháp luật về thuế;... Việc phổ biến pháp luật được lồng ghép trong các buổi sinh hoạt Chi hội, Tổ hội nông dân; qua các đợt phát động quần chúng, thông qua mô hình “Câu lạc bộ nông dân với pháp luật”, “Ngày tư vấn pháp luật cho phụ nữ”,…

+ Đối với chức sắc, tôn giáo, người có đạo, đối tượng thuộc diện bị theo dõi, quản lý: Các Sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND các cấp đã cử hàng ngàn lượt cán bộ về các thôn, làng phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; chính sách của Đảng về công tác tôn giáo cho các đối tượng này.

+ Đối với cán bộ, công chức: tập trung quán triệt các quy định của pháp luật về cán bộ - công chức, thẩm quyền thực thi công vụ, về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan đơn vị, Chương trình cải cách thủ tục hành chính,... Công tác phòng, chống tham nhũng được tỉnh chỉ đạo quyết liệt nên việc phổ biến pháp luật về Phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh và có bước chuyển biến tích cực.

+ Đối với thanh thiếu niên: phổ biến kiến thức pháp luật gắn với việc học tập, giáo dục các quyền cơ bản của trẻ em, những quy định của pháp luật về an toàn giao thông, an ninh học đường; phòng chống ma tuý; bảo vệ môi trường… Phát huy tốt vai trò của cán bộ quản lý, giáo viên, Hội phụ huynh và các tổ chức Đoàn - Hội - Đội. Tổ chức tư vấn pháp luật miễn phí cho thanh thiếu niên, góp phần ngăn ngừa tội phạm vị thành niên.

+ Đối với đối tượng là người lao động, người sử dụng lao động: tập trung phổ biến các văn bản pháp luật về hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, kỷ luật lao động, bảo hiểm xã hội, giải quyết tranh chấp lao động. Đối với người quản lý, người sử dụng lao động và cán bộ công đoàn trong các doanh nghiệp tập trung phổ biến Luật thương mại, Luật kinh tế, Luật ngân hàng, Luật hợp tác xã; Những quy định của pháp luật về phá sản, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động,…

+ Đối với lực lượng vũ trang: từ năm 2008 đến nay, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh có những diễn biến phức tạp, do đó việc PBGDPL cho cán bộ, chiến sĩ luôn được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo, nhằm giữ vững kỷ luật quân đội, nâng cao tính cơ động, sẵn sàng ứng phó trong mọi tình huống. Mặt khác còn trang bị kiến thức pháp luật cho cán bộ chiến sĩ để kết hợp giải thích, tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận ở cơ sở. 

Nhìn chung, hình thức, nội dung pháp luật lựa chọn để phổ biến đã bước đầu phù hợp với đối tượng, địa bàn, góp phần đưa pháp luật vào đời sống, đến với cán bộ, công chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh.

            3. Các điều kiện đảm bảo cho công tác PBGDPL

          3.1. Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

          Nguồn nhân lực tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện có: 25 cán bộ lãnh đạo thuộc các Sở, Ban, ngành của tỉnh; 28 cán bộ, công chức của các Sở, Ban, ngành, đoàn thể; 44 cán bộ quản lý tổ chức pháp chế; 179 cán bộ, Hội viên Hội luật gia; 06 phóng viên, biên tập viên pháp luật các cơ quan báo, đài địa phương; 07 giáo viên dạy môn pháp luật tại Trường chính trị tỉnh; 238 cán bộ, hội viên Hội phụ nữ; 05 cán bộ, hội viên Hội nông dân; 11.171 hoà giải viên, 28 Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 379 báo cáo viên pháp luật cấp huyện, 2.679 tuyên truyền viên cấp xã, 158 Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; 129 cộng tác viên trợ giúp pháp lý; 17 đội thông tin lưu động thuộc Sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch. Các đơn vị Công an, quân đội, Bộ đội biên phòng và cấp uỷ thành lập các đội công tác, tăng cường về cơ sở, vận động quần chúng chấp hành pháp luật, xoá đói, giảm nghèo, ổn định nông thôn. Ngoài ra còn có đội ngũ cán bộ của các tổ chức chính trị xã hội, đội ngũ già làng, trưởng thôn cùng tham gia tuyên truyền pháp luật. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ tham mưu, theo dõi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thuộc các Sở, ngành, Phòng Tư pháp đã được tăng lên về số lượng cũng như chất lượng, được bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng và cập nhật văn bản pháp luật mới.

Tuy nhiên, mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật các cấp, đặc biệt là mạng lưới cộng tác viên PBGDPL ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có được kiện toàn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa mở được lớp bồi dưỡng dành riêng cho báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật là người dân tộc thiểu số.

Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp được quan tâm kiện toàn, củng cố. Ngày 05/11/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 628/QĐ-UBND về việc kiện toàn Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL tỉnh, trên cơ sở sáp nhập Ban chỉ đạo của tỉnh về thực hiện Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg. Ở cấp huyện: Hiện 17/17 huyện, thành phố, thị xã đều đã thành lập, kiện toàn củng cố Hội đồng PBGDPL cấp mình và ban hành Quy chế hoạt động của hội đồng. Ở xã, phường, thị trấn  hiện có 199/222 xã, phường thị trấn đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL.

          3.2. Kinh phí, cơ sở vật chất:

          Hàng năm, UBND tỉnh có quyết định trích ngân sách địa phương cấp cho các ngành, các huyện, thị xã, thành phố thực hiện công tác PBGDPL. Kinh phí cấp cho thực hiện Chương trình PBGDPL của Chính phủ (2008-2012) được quy định trong các Kế hoạch thực hiện các Đề án trong Chương trình. Cụ thể:

          + Đối với Đề án I: 1.570 triệu đồng.

          + Đối với Đề án II: 1.068 triệu đồng.

          + Đối với Đề án III: 980 triệu đồng.

          + Đối với Đề án IV: 1.600 triệu đồng.

          Về kinh phí chi cho hoạt động của tủ sách pháp luật được thực hiện theo Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND ngày 6/4/2010 của UBND tỉnh Gia Lai về việc quy định mức chi cho tủ sách pháp luật cấp xã trên địa bàn tỉnh. Theo đó, mức chi xây dựng, quản lý cho mỗi tủ sách pháp luật cấp xã trên địa bàn tỉnh là 2.000.000 đồng/năm, bắt đầu thực hiện từ năm 2010.

          Về kinh phí chi cho công tác hòa giải được thực hiện theo Quyết định số 17/2010/QĐ0UBND ngày 02/8/2010 về việc ban hành Quy định về mức chi thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Theo đó, mức chi thù lao hòa giải là 150.000 đồng/vụ việc/tổ (căn cứ vào xác nhận của UBND cấp xã về số vụ việc nhận hòa giải của tổ hòa giải cơ sở).

          Ngoài ra, còn có một số kinh phí chi cho công tác phổ biến pháp luật từ các Sở, ngành, UBND các cấp, từ hỗ trợ của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội…

          4. Kết quả, triển khai 4 Đề án trong Chương trình

          4.1. Đề án thứ nhất: “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số” do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

UBND tỉnh ban hành Quyết định số 587/QĐ-UBND về việc ban hành kế hoạch thực hiện Quyết định số 554/QĐ-TTg ngày 04/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án và Quyết định 340/QĐ-UBND ngày 9/03/2010 về việc thành lập Ban chỉ đạo Đề án.

Với trách nhiệm là cơ quan chủ trì thực hiện Đề án thứ nhất, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã làm tốt công tác định hướng tuyên truyền, phổ biến pháp luật một cách thường xuyên bằng nhiều hình thức với nội dung thiết thực và phù hợp như: tuyên truyền miệng; in ấn, phát hành tài liệu; sinh hoạt của các loại hình câu lạc bộ;… Soạn thảo, in và phát hành 7.124 bộ tài liệu phát hành đến cơ sở. Công tác tuyên truyền được tiến hành thông qua việc khảo sát nhận thức pháp luật đến 2.650 hộ nông dân, đạt trên 80% kế hoạch. Qua khảo sát cho thấy người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số được tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về: lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy lợi, phát triển xây dựng nông thôn mới), về bảo vệ rừng, chính sách dân tộc, bình đẳng giới, hôn nhân gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình và các quy định pháp luật khác có liên quan trực tiếp đến người dân như việc thực hiện quy chế dân chủ…

85% cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan, đơn vị có liên quan đến người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số được trang bị kiến thức pháp luật thuộc lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình.

4.2. Đề án thứ hai: “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước” do Sở Tư pháp chủ trì.

- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 288/QĐ-UBND ngày 08/06/2009 về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 270/QĐ-TTg ngày 27/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án; Quyết định số 1195/QĐ-UBND ngày 07/9/2009 về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án nhằm phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan thực hiện Đề án.

- Đánh giá về thực trạng, rà soát nguồn nhân lực (theo số liệu tại mục 3.1)

Khảo sát công tác PBGDPL trong trường học, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành khảo sát và báo cáo đánh giá công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong trường học giai đoạn 2000-2010. Qua quá trình khảo sát cho thấy công tác PBGDPL trong trường học được thực hiện chủ yếu thông qua việc dạy và học môn Giáo dục công dân, cung cấp tài liệu pháp luật, khai thác và sử dụng tủ sách, ngăn sách pháp luật, sinh hoạt ngoại khóa, Thi tìm hiểu pháp luật,… Thông qua đó, giúp các em học sinh hiểu được những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, có thái độ đúng đắn, phù hợp chuẩn mực đạo đức và pháp luật trong nhà trường và ngoài xã hội.

            - Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn pháp lý và nghiệp vụ PBGDPL

+ Trong 02 năm 2009-2010, cấp huyện đã tổ chức được 118 lớp tập huấn cho 11.552 người (Trong đó, năm 2009 tổ chức được 88 lớp cho 9.045 người. Năm 2010 tổ chức 30 lớp cho 2.507 người (có 12/17 huyện báo cáo)) là báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp xã, cán bộ thôn, làng, người có uy tín tại cơ sở.

+ Sở Tư pháp tổ chức 11 lớp tập huấn nghiệp vụ phổ biến pháp luật cho 1.085 người là trợ giúp viên pháp lý, cán bộ tư vấn pháp luật, báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch xã và hòa giải viên cơ sở.

+ Phối hợp với các đơn vị: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Ban Dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, tổ chức 17 lớp tập huấn nghiệp vụ PBGDPL và nâng trình độ lý luận chính trị cho 1.431 cán bộ, hội viên.

          Nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản pháp luật mới ban hành liên quan trực tiếp đến người dân. Nâng cao nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, kỹ năng tuyên truyền miệng, tư vấn, hoà giải,…

 - Chính sách, chế độ đối với nguồn nhân lực trong công tác phổ biến pháp luật: UBND tỉnh ban hành Quyết định số 17/2010/QĐ-UBND ngày 02/8/2010 Quy định về mức chi thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Thông tư 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/05/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Xây dựng, hoàn thiện nguồn tài liệu nghiệp vụ PBGDPL

          Trong 02 năm, biên tập, phát hành 75.780 tờ tài liệu phổ biến pháp luật ở thôn, làng, khu dân cư; Phát hành 10.234 cuốn sách pháp luật và 235 cuốn tài liệu “Hỗ trợ kiến thức lý luận chính trị cho cán bộ Tư pháp và công an xã, phường, thị trấn;

Biên soạn và phát hành 42.209 tập đề cương phổ biến các văn bản pháp luật mới, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp xã và cán bộ Tư pháp - Hộ tịch xã;

          Thực hiện chuyên mục trả lời bạn nghe đài trên sóng phát thanh; Biên soạn, phát hành 13.324 đĩa CD tuyên truyền các văn bản pháp luật mới liên quan đến người dân.

          Việc biên soạn tài liệu, đề cương giới thiệu văn bản pháp luật phù hợp với từng đối tượng, chủ động phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, các ngành chức năng triển khai văn bản mới một cách kịp thời.

            4.3. Đề án thứ ba: “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì.

Với trách nhiệm là cơ quan chủ trì thực hiện Đề án thứ ba, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Sở Giáo dục và Đào tạo xác định trọng tâm của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong hai năm 2008-2010 là hướng về cơ sở, bám sát nhu cầu hiểu biết pháp luật của người dạy, người học. Bố trí đủ và phát huy vai trò của đội ngũ dạy môn giáo dục công dân và môn pháp luật trong việc phổ biến pháp luật đến đội ngũ giáo viên, học sinh.

Từ 2008-2010 đã tổ chức được 2.284 cuộc tuyên truyền miệng và 02 lần tổ chức Hội nghị phổ biến các văn bản pháp luật mới cho 926.586 lượt người. Tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị, pháp luật cho toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh - sinh viên trong toàn ngành. Lồng ghép việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật trong các môn học xã hội, các buổi sinh hoạt, tổ chức các câu lạc bộ đố vui để học, diễn đàn thanh niên, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tổ chức ký cam kết giữa học sinh - gia đình - nhà trường về việc chấp hành pháp luật; thực hiện cuộc vận động “Hai không” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phối hợp với Ban An toàn giao thông tỉnh và các Sở, Ban, ngành khác tổ chức thành công Hội thi “Học sinh THPT với An toàn giao thông”, môi trường an ninh học đường có nhiều chuyển biến tích cực.

4.4. Đề án thứ tư: “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp” do Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì.

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 646/QĐ-UBND ngày 14/10/2009 và Quyết định số 1523/QĐ-UBND ngày 06/11/2009 về việc thành lập Ban điều hành thực hiện Đề án nhằm phân công rõ trách nhiệm của từng thành viên trong Ban chỉ đạo trong việc triển khai thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp” từ năm 2009 đến năm 2012.

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức được 41 cuộc tuyên truyền miệng với 4.523 lượt người lao động và người sử dụng lao động với nhiều hình thức tuyên truyền như: thông qua công tác tập huấn, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, truyền hình, sách, báo, tờ rơi, tranh ảnh, áp phích. Biên soạn, cấp phát 16.350 bộ tài liệu tuyên truyền

5. Công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, khen thưởng đối với những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

            Các cơ quan chủ trì và phối hợp thực hiện lồng ghép với công tác khen thưởng chung của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

          II. Đánh giá về kết quả sau 02 năm thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (2008-2012)

1. Về hiệu quả

          Nhìn chung, qua 02 năm thực hiện Quyết định 37/2008/QĐ-TTg về cơ bản đã đạt được mục đích, mục tiêu, yêu cầu của Chương trình công tác PBGDPL. Các đơn vị đã tích cực triển khai nội dung của Đề án thuộc Chương trình PBGDPL của Chính phủ. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được các cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp thực hiện Đề án cùng các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương thực hiện khá nghiêm túc. Các cơ quan chủ trì Đề án đã bám sát vào nội dung của từng Đề án để triển khai thực hiện một cách có hiệu quả và đã đạt được một số kết quả nhất định. Mỗi cơ quan, đơn vị tham gia Đề án đều nhận thức rõ trách nhiệm của mình và ngay từ đầu đã khẩn trương triển khai, phối - kết hợp với các Sở, ban, ngành để đề ra kế hoạch và phương thức hoạt động cụ thể.

         Đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL được củng cố, nâng cao năng lực hoạt động. Hình thức PBGDPL đa dạng, phong phú, có nhiều mô hình mới phù hợp với từng đối tượng. Các ban, ngành, đoàn thể cũng đã có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cán bộ, nhân dân. Một số trung tâm chính trị huyện đã vào cuộc tổ chức lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở. Từ đó, nhận thức về pháp luật của đội ngũ cán bộ công chức, nhân dân có sự chuyển biến tích cực; chất lượng giải quyết công việc của cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục được nâng lên; hiểu biết pháp luật của nhân dân ngày càng được cải thiện, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.

Nguồn nhân lực PBGDPL của tỉnh đã được củng cố, kiện toàn, huy động sức mạnh của các lực lượng trong xã hội tham gia. Qua số liệu khảo sát cho thấy các Sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện đều quan tâm bố trí được cán bộ, kinh phí thực hiện nhiệm vụ phổ biến pháp luật.

         2. Hạn chế, khó khăn và nguyên nhân

            2.1. Hạn chế, khó khăn

         Việc phối hợp giữa cơ quan chủ trì và cơ quan thành viên để triển khai thực hiện các Đề án trong chương trình chưa được chặt chẽ, kết quả thực hiện chưa rõ nét. Bên cạnh đó, ở một số đơn vị đội ngũ tuyên truyền pháp luật chủ yếu là kiêm nhiệm nên hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đạt yêu cầu và mục tiêu của Đề án; Đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL tuy đã được quan tâm xây dựng nhưng còn yếu về trình độ chuyên môn, kỹ năng phổ biến pháp luật còn hạn chế; Chưa có chế độ bồi dưỡng đối với những đối tượng được tổ chức tuyên truyền tập trung hoặc có nhưng chưa hợp lý. Qua kiểm tra ở 06 huyện cho thấy các tuyên truyền viên khi thực hiện việc phổ biến pháp luật ở thôn, làng hầu hết không được thanh toán tiền thù lao báo cáo viên. 

Việc tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch có lúc chưa được chủ động; chậm sơ kết, tổng kết để đánh giá đúng thực trạng và đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời.

          Một số cơ quan, đơn vị chưa xây dựng và triển khai kế hoạch PBGDPL thuộc đối tượng mình quản lý; chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, thông tin nên việc tổng hợp số liệu trong công tác PBGDPL chưa kịp thời và đầy đủ.

Chưa kết hợp tốt giữa thực hiện các chương trình giáo dục lý luận chính trị của các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội với chương trình PBGDPL; chưa huy động và phát huy vai trò của đội ngũ luật gia, cán bộ Công đoàn trong tham gia PBGDPL trong các doanh nghiệp.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngày càng nhiều với số lượng lớn, lại liên tục được sửa đổi, bổ sung, nên  nhiều văn bản mới ban hành chưa cập nhật kịp thời đến đội ngũ làm công tác PBGDPL.

          Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, nhân dân còn hạn chế, nhất là trong việc chấp hành pháp luật về giao thông, về quản lý bảo vệ rừng; tình hình trật tự an toàn xã hội vẫn diễn biến phức tạp, các vụ phạm pháp hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm lâm luật vẫn thường xuyên xảy ra với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng.

          2.2. Nguyên nhân

            * Lực lượng làm công tác tuyên truyền, PBGDPL ở cơ sở yếu về nghiệp vụ; khả năng phân tích, giải thích pháp luật còn hạn chế, chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên.

* Công tác tham mưu, chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn, chính quyền ở một số nơi có lúc chưa chủ động, kịp thời. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ PBGDPL nói chung và triển khai thực hiện các Đề án của Chương trình PBGDPL của Chính phủ nói riêng vẫn còn chưa tốt.

            * Công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các Đề án chưa thường xuyên, còn mang tính hình thức. Một số Sở, ban, ngành có lúc chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của công tác PBGDPL, thiếu chủ động trong việc triển khai thực hiện. Việc tổng kết mô hình, nhân rộng các biện pháp phổ biến pháp luật hay chưa được thực hiện.

          * Nhiều quy định của pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp tạo ra phức tạp trong áp dụng và vận động thi hành pháp luật. Một số vụ việc vi phạm pháp luật, tranh chấp, khiếu nại chưa được các cơ quan xử lý nghiêm hoặc xử lý thiếu công bằng làm cho nhân dân không đồng tình đã làm trở ngại thêm cho công tác phổ biến pháp luật.

          3. Bài học kinh nghiệm

          - Cần có cơ chế phối hợp thực hiện chặt chẽ và hiệu quả hơn nữa giữa các cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp trong việc triển khai thực hiện các Đề án nhằm tạo nên một sức mạnh tổng hợp, toàn diện để thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

          - Phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan chủ trì thực hiện Đề án trong việc tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch, chương trình triển khai thực hiện; làm tốt công tác sơ kết, tổng kết toàn diện, kịp thời, đúng thời gian quy định. Từ đó đánh giá, rút kinh nghiệm và có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL.

          - Cần đổi mới trong việc tổ chức các mô hình; phương pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đảm bảo tính khả thi và nâng cao hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, giám sát trong công tác PBGDPL.

          - Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia công tác PBGDPL. Đồng thời gắn công tác PBGDPL với việc thực hiện hương ước, quy ước ở địa bàn khu dân cư; phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong cộng đồng dân cư; xây dựng, hoàn thiện cả về số lượng, chất lượng đối với đội ngũ làm công tác PBGDPL để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

          - Cần xây dựng, củng cố, kiện toàn và nâng cao hơn nữa số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực cũng như các điều kiện khác đảm bảo hiệu quả cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

III. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thành mục tiêu của Chương trình

            - Tiếp tục thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND ngày 29/5/2008 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định 37/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phổ biến pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012;

          - Các cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp phải xác định rõ công việc cần làm, đồng thời phối hợp chặt chẽ, kịp thời với các cơ quan, đơn vị liên quan trong tổ chức thực hiện. Các cơ quan chủ trì thực hiện Đề án có văn bản hướng dẫn cơ quan phối hợp trong việc thực hiện Đề án, các tiểu Đề án;

- Thường xuyên củng cố nguồn nhân lực PBGDPL; Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, xây dựng kế hoạch tập huấn nghiệp vụ phổ biến pháp luật cho đội ngũ làm công tác PBGDPL;

- Tiến hành rà soát, đánh giá số lượng sách, chất lượng khai thác, sử dụng, bảo quản tủ sách pháp luật ở cơ sở và từng cơ quan đơn vị; có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót;

- Kết hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với phong trào vận động quần chúng; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, hoà giải ở cơ sở;

- Xây dựng chương trình, tài liệu phục vụ hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ PBGDPL theo từng giai đoạn. Biên soạn và cung cấp tài liệu về PBGDPL cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp, hòa giải viên ở cơ sở;

          - Tổ chức khảo sát ở một số địa phương nhằm xác định những nội dung pháp luật và hình thức phù hợp để tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho từng đối tượng, đặc biệt là người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số;

          - Có cơ chế, chính sách phù hợp, đầu tư hơn nữa trong công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến pháp luật đối với đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật, nhất là ở cấp xã, tư vấn viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở;

   - Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác PBGDPL; khen thưởng, động viên kịp thời các cơ quan, đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác PBGDPL./.

 

                                                    TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

                                                CHỦ TỊCH

                                                        (Đã Ký)

                                                         Phạm Thế Dũng

 

Tin cập nhật ngày 26/5


Bản đồ hành chính

Thông tin thời tiết (19-12-2014)

Khu vực phía Đông Bắc tỉnh( Huyện KBang) Mây thay đổi, trời lạnh có mưa, mưa rào rải rác, ngày trời nắng gián đoạn. Gió: Đông Bắc cấp 2 – cấp 3. Nhiệt độ từ: 17 - 27oC0C
Khu vực phía Đông tỉnh(Mang Giang, ĐakPơ, KongChro & TX An Khê) Mây thay đổi, trời lạnh có mưa, mưa rào rải rác, ngày trời nắng gián đoạn. Gió: Đông Bắc cấp 2 – cấp 3. Nhiệt độ từ: 17 - 27oC0C
Khu vực phía Đông Nam tỉnh (Phú Thiện, AyunPa, Ia Pa & KrôngPa) Mây thay đổi , có mưa, mưa rào vài nơi, ngày trời nắng gián đoạn. Gió: Nhẹ. Nhiệt độ từ: 19 - 31oC0C
Khu vực phía Tây Nam tỉnh(Chư Prong, Đức Cơ, Chư Sê, Chư Pưh) Mây thay đổi, đêm và sáng trời lạnh, có mưa, mưa rào vài nơi, trời nắng gián đoạn. Gió: Đông Bắc cấp 2 – cấp 3. Nhiệt độ từ: 16 - 30oC0C
Khu vực phía Tây Bắc (ChưPah, IaGrai, ĐakĐoa) Mây thay đổi, đêm và sáng trời lạnh, có mưa, mưa rào vài nơi, trời nắng gián đoạn. Gió: Đông Bắc cấp 2 – cấp 3. Nhiệt độ từ: 16 - 30oC0C
Khu vực TP. Pleiku Mây thay đổi, đêm và sáng trời lạnh, có mưa, mưa rào vài nơi, trời nắng gián đoạn. Gió: Đông Bắc cấp 2 – cấp 3. Nhiệt độ từ: 16 - 29oC0C