English Thứ Sáu, 18-05-2012, 05:48 (GMT+7)

Giới thiệu

Tin tức

Liên kết website


Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 2656102
Đang online: 15

Báo cáo số 170/BC-UBND: Về tình hình, kết quả thực hiện cải cách hành chính năm 2011

Đăng ngày:09-01-2012; 424 lần đọc
Ngày 16 tháng 12 năm 2011, UBND tỉnh Gia Lai đã có Báo cáo số 170/BC-UBND; gửi: BCĐ CCHC Chính phủ; VPCP; Bộ Nội vụ, Cơ quan TT Miền trung-Bộ Nội vụ, TT Tỉnh ủy; TT HĐND tỉnh; MTTQ VN và các đoàn thể tỉnh; lãnh đạo UBND tỉnh; các cơ quan, đơn vị liên quan trong tỉnh; Cổng thông tin điện tử  tỉnh Gia Lai trích đăng nguyên văn nội dung chính của Báo cáo như sau:   ​

          Trong năm 2011, UBND tỉnh Gia Lai chủ động chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công, nâng cao mức độ hài lòng của tổ chức, công dân đối với hoạt động quản lý nhà nước, gắn nhiệm vụ cải cách hành chính với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nhất là thực hiện những giải pháp chủ yếu nhằm tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

            I. Kết quả thực hiện
            1. Công tác chỉ đạo thực hiện
Để khắc phục tình trạng lập kế hoạch chung chung, nhiều mục tiêu dàn trải thiếu tập trung, giao nhiệm vụ vượt khả năng của các cấp, các ngành; đầu năm 2011, tỉnh đã chỉ đạo, hướng dẫn đăng ký các mục tiêu cải cách hành chính trên từng lĩnh vực trọng tâm trong năm theo định hướng đến năm 2015 của TW để các Sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố chủ động theo khả năng của mình đăng ký thực hiện. Trên cơ sở đăng ký của cơ quan, đơn vị, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 398/QĐ-UBND ngày 01/6/2011 phê duyệt mục tiêu, sản phẩm cải cách hành chính của từng Sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố. Theo nội dung chỉ đạo này, từng cơ quan, đơn vị chủ động đề cao trách nhiệm và lấy đó làm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu cơ quan, đơn vị tại địa phương (có phụ lục tổng hợp kèm theo báo cáo này).
Trong khi TW chưa ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020, UBND tỉnh đã chủ động ban hành Quyết định số 464/QĐ-UBND ngày 05/7/2011 về Kế hoạch nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính tỉnh, huyện, xã giai đoạn 2011- 2015 với mục tiêu giải quyết công việc chuyên nghiệp, hiện đại, có hiệu quả thực chất, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính cho tổ chức, công dân. Trọng tâm của Kế hoạch là: Tổ chức lại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một cách quy củ; mỗi Sở, ngành, UBND cấp huyện, UBND cấp xã chỉ có một đầu mối tiếp nhận, trả kết quả và kiểm soát cho được quá trình nhận và xử lý hồ sơ, uốn nắn kịp thời các biểu hiện tiêu cực; đẩy mạnh thực hiện cơ chế một cửa liên thông giữa các cơ quan hành chính cùng cấp và các cấp; yêu cầu người đứng đầu phải thường xuyên kiểm soát chất lượng và thời gian giải quyết công việc của bộ phận chuyên môn; minh bạch quy trình tiếp nhận, xử lý công việc, biểu mẫu, hồ sơ, phí và lệ phí; chấn chỉnh ngay những bức xúc trong giải quyết công việc về đất đai, đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng; đẩy mạnh áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông.
Xác định cải cách thủ tục hành chính tiếp tục là khâu đột phá trong thực hiện nhiệm vụ cải cách ở địa phương, góp phần quan trọng cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính cung cấp cho người dân, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 168/QĐ-UBND ngày 18/3/2011 về Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính năm 2011; Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND ngày 13/9/2011 quy định Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính nhằm tạo cơ chế để tổ chức, cá nhân thực hiện quyền giám sát, phản hồi thông tin về việc thực hiện các quy định hành chính ở tỉnh; Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 13/9/2011 về quy chế công bố, công khai thủ tục hành chính, đảm bảo thông tin kịp thời, đầy đủ về hồ sơ, quy trình xử lý công việc của cơ quan hành chính các cấp ở tỉnh đến với người dân.
Nhằm tăng cường công tác thanh kiểm tra, tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tổ chức khảo sát bằng phiếu câu hỏi, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông gắn với cải cách  thủ tục hành chính tại các đơn vị như: huyện Ia Grai, huyện Chư Sê, huyện Chư Pưh, huyện Krông Pa, huyện Phú Thiện, huyện Kbang. Qua đó, kịp thời phối hợp, hướng dẫn các nội dung công việc cần triển khai và tổng hợp báo cáo UBND tỉnh xem xét, xử lý các vấn đề vướng mắc, chưa phù hợp.  
2. Về cải cách thể chế
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2011/QĐ-UBND ngày 19/11/2011 quy định về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Điểm mới của quy định là yêu cầu cơ quan soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật có chứa thủ tục hành chính phải đánh giá tác động của thủ tục hành chính và lấy ý kiến Văn phòng UBND tỉnh trước khi gửi Sở Tư pháp thẩm định.
Tỉnh cũng đã ban hành Kế hoạch số 1858/KH-UBND ngày  27/6/2011 về  theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2011 ở địa phương trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; xây dựng Đề án củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ chức pháp chế ở tỉnh theo quy định của Nghị định 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ; đánh giá tình hình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, các loại văn bản chỉ đạo, đôn đốc, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên và của cơ quan Nhà nước cùng cấp; rà soát các văn bản liên quan đến việc huy động vốn của nhân dân, quy định phí và lệ phí trên địa bàn tỉnh.
Trong năm 2011, có 1.183 văn bản được thẩm định, góp ý, kiểm tra hoặc tự kiểm tra, rà soát như: thẩm định 62 văn bản; góp ý 75 văn bản; tự kiểm tra 52 văn bản của UBND tỉnh; kiểm tra theo thẩm quyền 141 văn bản của HĐND, UBND cấp huyện, qua kiểm tra phát hiện và kịp thời xử lý 06 Quyết định vi phạm; tổng rà soát 894 văn bản của UBND tỉnh ban hành từ 1992 đến tháng 6/2011; rà soát 97 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật Thi hành án hình sự, 58 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phòng chống mua bán người...
3. Về cải cách thủ tục hành chính
Công tác kiểm soát thủ tục hành chính bước đầu được tăng cường và đi vào nề nếp. Thành lập Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính thuộc Văn phòng UBND tỉnh, bổ sung thêm biên chế, quy định tổ chức và hoạt động, mối quan hệ công tác với các cơ quan, đơn vị ở địa phương. Hệ thống cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC đã được thiết lập, gồm: 264 cán bộ, công chức (trong đó, cấp tỉnh 18, cấp huyện 24, cấp xã 222).
Tổ chức, công dân được tạo điều kiện thuận lợi với nhiều kênh thông tin để tiếp cận Bộ thủ tục hành chính của tỉnh như: Báo Gia Lai, Đài phát thanh truyền hình, cổng thông tin điện tử tỉnh, các trang thông tin điện tử... Sở, Ban ngành tỉnh có trách nhiệm kịp thời tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh công bố thủ tục hành chính mới, thủ tục hành chính bổ sung và sửa đổi, thay thế các thủ tục không cần thiết, không hợp lý, hợp pháp của ngành, địa phương. Cơ quan hành chính các cấp đã công khai thủ tục kịp thời, đầy đủ ngay sau khi công bố và kết hợp phổ biến đến người dân. Từng bước củng cố và tăng cường việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính ở tỉnh. Phối hợp với Đoàn công tác của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính kiểm tra và chấn chỉnh công tác công bố, công khai, thực thi và kiểm soát Bộ thủ tục hành chính được Chủ tịch UBND tỉnh công bố .
Các cơ quan hành chính các cấp tăng cường rà soát, kịp thời bổ sung các thủ tục và tiếp tục kiến nghị đơn giản hóa theo quy định. Để thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục, đồng thời cập nhật các quy định thủ tục hành chính mới, UBND tỉnh đã ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung Bộ thủ tục hành chính của các cơ quan: Sở Tài nguyên và Môi trường (Quyết định số 143/QĐ-UBND ngày 09/3/2011 công bố bãi bỏ 1 thủ tục; sửa đổi, bổ sung 25 thủ tục, Quyết định số 1512/QĐ-UBND ngày 13/12/2011 công bố bãi bỏ 10 thủ tục, sửa đổi, bổ sung 29 thủ tục, công bố mới 04 thủ tục), Sở Giao thông Vận tải (Quyết định số 301/QĐ-UBND ngày 29/4/2011 công bố mới 4 thủ tục; sửa đổi, bổ sung 11 thủ tục), Sở Khoa học và Công nghệ (Quyết định số 1177/QĐ- UBND ngày 14/9/2011 công bố mới 3 thủ tục; sửa đổi, bổ sung 8 thủ tục), Sở Công thương (Quyết định số 1198/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 công bố bãi bỏ 4 thủ tục; công bố mới 11 thủ tục; sửa đổi, bổ sung 32 thủ tục), Sở Thông tin và Truyền thông (Quyết định số 1400/QĐ-UBND ngày 31/10/2011 công bố lại bộ thủ tục hành chính gồm 18 thủ tục). Hiện nay, tổng số TTHC đã được tỉnh công bố là 1.706 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các Sở, Ban ngành tỉnh, của cấp huyện và cấp xã, trong đó: cấp tỉnh có 1.237 thủ tục, cấp huyện 298 thủ tục và cấp xã là 175 thủ tục.  
4. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông
Bước đầu tổ chức lại việc tiếp nhận và trả kết quả tại một đầu mối duy nhất là Văn phòng Sở ngành, Văn phòng HĐND&UBND cấp huyện, trụ sở UBND cấp xã; chỉ đạo, hướng dẫn triển khai đồng bộ việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông đối với công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan hành chính cùng cấp và các cấp; kiện toàn tổ chức và hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhằm kiểm soát được chất lượng và thời gian giải quyết công việc của bộ phận chuyên môn. Đến nay, một số cơ quan, đơn vị đã triển khai thực hiện khá tốt như: UBND huyện Chư Sê, Chư Pưh đã có kế hoạch phân công nhiệm vụ, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp tổ chức lại việc nhận và trả kết quả, quy định trách nhiệm và thực hiện quy trình giải quyết công việc theo cơ chế một cửa liên thông, riêng huyện Chư Sê đang triển khai mô hình “văn phòng điện tử” nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình xử lý công việc hành chính; UBND huyện Ia Grai lập kế hoạch kiểm tra thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2011 tại các xã, thị trấn trực thuộc, tổ chức lại mô hình hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện theo quy định, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị hoàn thành mục tiêu cải cách tỉnh giao; UBND huyện Kbang đã xây dựng Đề án thực hiện cơ chế một cửa và cơ chế một cửa liên thông gắn với đổi mới công tác tiếp công dân trên địa bàn huyện; UBND huyện Đức Cơ thí điểm thực hiện cơ chế một cửa liên thông giữa huyện với 03 đơn vị cấp xã trực thuộc... Đặc biệt, UBND thành phố Pleiku đã tập trung triển khai thí điểm mô hình một cửa hiện đại, phối hợp các Sở: Nội vụ, Thông tin - Truyền thông, Tài chính tổ chức đoàn công tác học tập kinh nghiệm ở một số tỉnh bạn như: Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện đã hoàn chỉnh Đề án trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt...
100% Sở ngành thuộc UBND tỉnh, 100% đơn vị cấp huyện, 100% xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế 1 cửa (riêng các xã mà yêu cầu cung cấp dịch vụ hành chính không nhiều, ít thường xuyên thì tổ chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo mô hình 01 công chức Văn phòng – Thống kê thường trực làm nhiệm vụ nhận và trả kết quả). Cơ chế một cửa liên thông đã thực hiện tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh, Sở Lao động - Thương binh & Xã hội và tại các huyện Chư Păh, Kbang, Đức Cơ, Đak Đoa, Chư Sê, Chư Pưh, thị xã Ayun Pa. Trong thời gian tới tiếp tục mở rộng triển khai nhằm đảm bảo 100% công việc thường xuyên phải liên thông giải quyết giữa các cơ quan hành chính với tổ chức, công dân được thực hiện. Chỉ đạo củng cố chế độ làm việc vào thứ bảy hàng tuần để tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, công dân theo quy định.
5. Về cải cách bộ máy hành chính nhà nước
Tiếp tục triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị định 13, 14/2008/NĐ-CP của Chính Phủ như: quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và biên chế của Văn phòng UBND tỉnh, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, Chi cục Văn thư lưu trữ; hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng HĐND&UBND cấp huyện; thành lập Phòng Thanh niên thuộc Sở Nội vụ, phòng Nghiệp vụ & Tổng hợp thuộc Văn phòng Ban chỉ đạo tỉnh Gia Lai về phòng chống tham nhũng; bổ sung nhiệm vụ, quy định tổ chức thực hiện công tác bồi thường Nhà nước ở Sở Tư pháp; chỉ đạo kiện toàn tổ chức và tăng cường hoạt động về công tác pháp chế theo quy định của Nghị định 55/2011/NĐ-CP; củng cố tổ chức bộ máy Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng thuộc Sở Khoa học và Công nghệ... Đồng thời, tỉnh cũng tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp cho phù hợp với tình hình mới, cụ thể: quy định lại chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh thuộc UBND tỉnh; tách hoạt động sự nghiệp về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng độc lập với chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này tại Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng; sắp xếp lại chức năng hướng nghiệp trong ngành giáo dục tỉnh, huyện để nâng cao chất lượng công tác này; kiện toàn Trung tâm bán đấu gía tài sản thuộc Sở Tư pháp; thành lập Quỹ Phát triển đất thuộc Sở Tài chính nhằm tăng cường nhiệm vụ phát triển quỹ đất ở tỉnh; kiện toàn Ban an toàn giao thông theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để tạo điều kiện đẩy mạnh công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông; tăng quy mô cung cấp dịch vụ công thuộc ngành y tế ở thành phố Pleiku và một số huyện; triển khai xếp hạng tất cả các đơn vị sự nghiệp y tế ở tuyến xã; thực hiện tổ chức, sắp xếp lại trường, lớp định kỳ hàng năm theo quy định... Bên cạnh đó, thực hiện phân cấp công việc hành chính về cấp huyện theo quy định; bổ sung nhiệm vụ, tổ chức về công tác thanh niên tại phòng Nội vụ các huyện, thị xã, thành phố; triển khai đề án đổi mới công tác tiếp công dân trên toàn tỉnh; đánh giá nhằm củng cố, tăng cường công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình tại huyện, xã.
Về công tác hội, trong năm tỉnh đã quyết định cho phép thành lập 04 tổ chức; phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của 10 tổ chức; công nhận 14 Hội đặc thù hoạt động trong phạm vi tỉnh; thực hiện cơ chế giao kinh phí cho Hội khi tham gia thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao. Tổ chức Hội nghị tập huấn về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội ở tỉnh cho khoảng 100 cán bộ Hội các cấp, qua đó, quán triệt các quy định mới về quản lý nhà nước đối với công tác Hội, nắm bắt nguyện vọng của các đại biểu đại diện cho các Hội tỉnh, huyện, xã. Một số vướng mắc đã được các đại biểu thảo luận như vấn đề hỗ trợ kinh phí từ ngân sách cho hoạt động của Hội, biên chế hỗ trợ cho Hội, chế độ phụ cấp chức danh cấp phó, thư ký Hội, vấn đề công nhận Hội đặc thù ở tỉnh. Sở Nội vụ đã kịp thời thông tin, hướng dẫn, giải đáp các thắc mắc; tổng hợp các kiến nghị của Hội để đề xuất với tỉnh về chế độ, chính sách theo quy định.
UBND tỉnh phân bổ biên chế hành chính sự nghiệp năm 2011 cho các Sở ngành, UBND cấp huyện theo hướng giữ ổn định định biên tại các cơ quan hành chính, chỉ tăng biên chế hành chính hoặc sự nghiệp đối với các vị trí việc làm do bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ hoặc mở rộng quy mô hoạt động của bộ máy phù hợp với tình hình thực tế của ngành, địa phương. Ngoài ra, tiếp tục thực hiện công tác đổi mới sắp xếp doanh nghiệp theo quy định. Sau khi hoàn thành việc chuyển đổi 17 doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh quản lý thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do UBND tỉnh làm chủ sở hữu, đã phê duyệt Điều lệ, quỹ tiền lương, giao tỷ suất lợi nhuận, kiến nghị Bộ Tài chính hỗ trợ kinh phí giải quyết số lao động dôi dư. Đang thực hiện bàn giao giữa Hội đồng giải thể công ty cà phê Chư Păh và công ty trách nhiệm hữa hạn MTV Cà phê Gia Lai; thực hiện đúng phương án giải thể Công ty xây dựng kinh tế Thanh niên xung phong.
6. Về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Triển khai tổ chức đánh giá kết quả và đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 và công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị. Có văn bản chỉ đạo chấn chỉnh công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng công chức, viên chức được đào tạo sau đại học; hướng dẫn thực hiện công tác đào tạo sau đại học và chính sách thu hút cán bộ trình độ cao giai đoạn 2011-2015. Tỉnh đã cử 03 cán bộ và cho phép 36 công chức, viên chức đi đào tạo sau Đại học; 04 cán bộ tham gia các lớp nghiên cứu ngắn hạn tại nước ngoài theo đề án 165 và dự án ADB của Bộ Nội vụ; 09 học viên đào tạo đại học theo diện cử tuyển ngành quân sự cơ sở năm 2011; 23 cán bộ, công chức đi bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính; 11 cán bộ, công chức đi bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên cao cấp; 80 cán bộ là đối tượng 2 đi học lớp bồi dưỡng kiến thức an ninh – quốc phòng.
Phối hợp mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng gồm: 01 lớp đại học hành chính tại trường Chính trị tỉnh; 01 lớp đại học Luật tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh cho cán bộ chủ chốt cấp xã; 01 lớp trung cấp khuyến nông tại huyện Đak Pơ, 01 lớp trung cấp Luật hệ vừa học vừa làm tại huyện Kbang với mỗi lớp 60 học viên. Phối hợp chiêu sinh mở 02 lớp tiếng Jrai, 02 lớp tiếng Anh chương trình B, C tại tỉnh. Bên cạnh đó, tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng cải cách hành chính về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông và công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại UBND cấp huyện, đối tượng gồm lãnh đạo UBND huyện và Trưởng, Phó phòng ban chuyên môn thuộc huyện, lãnh đạo UBND cấp xã và các công chức chuyên môn tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã ở các huyện: Krông Pa, Phú Thiện, Chư Pưh, Ia Grai, Kbang (bình quân mỗi lớp khoảng 60 học viên).
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng được nâng cao. Xét theo cơ cấu trên tổng số 25.268 công chức, viên chức (tăng so với năm trước là 732 người); về trình độ chuyên môn, trên đại học 257 người (chiếm 1%, tăng so với năm trước là 13 người), đại học, cao đẳng 14.250 người (chiếm 56.4%, tăng so với năm trước là 571 người), trung cấp 8.142 người (chiếm 32%, tăng so với năm trước là 148 người); độ tuổi bình quân của CCVC là trên 40 tuổi. Chất lượng trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thay đổi tích cực. Xét theo cơ cấu trên tổng số 3.912 cán bộ, công chức (tăng so với năm trước là 24 người), về trình độ văn hoá cấp 2 là 1.332 người (chiếm 34%, tăng so với năm trước là 29 người); cấp 3 là 2.580 người (chiếm 66 %, tăng so với năm trước là 159 người); về trình độ chuyên môn, trung cấp và cao đẳng là 1.887 người (chiếm 48%, tăng so với năm trước là 49 người);  đại học là 377 người (chiếm 9 %, tăng so với năm trước là 61 người); về trình độ chính trị, trung cấp, cao cấp là 1317 người (chiếm 33,6%); cơ cấu độ tuổi trên 45 tuổi là 1.123 người (chiếm 28 %); từ trên 30 - 45 tuổi là 1.578 người (chiếm 40%); dưới 30 tuổi là 1.211 người (chiếm 32 %) (số liệu đến ngày 30/11/2011).
Triển khai Nghị quyết số 21/NQ-CP của Chính phủ về chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, tỉnh đã phê duyệt kế hoạch và tổ chức thực hiện 5/5 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 7 Sở ngành và 39 đơn vị thuộc 5 huyện, thị xã, thành phố. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức được duy trì thường xuyên và đạt kết quả tương đối tốt.
7. Về công tác tài chính công
UBND tỉnh quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về một số giải pháp kiềm chế lạm phát, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra và đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và giải ngân các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; tăng cường kiểm tra và giám sát chất lượng công trình trên địa bàn tỉnh; tập trung vốn cho các dự án lớn, có khả năng hoàn thành trong năm 2011. Đến nay tỉnh đã cắt giảm 21 công trình, dự án với tổng vốn là 56,83 tỷ đồng để điều chuyển cho 09 công trình, dự án cấp bách, hoàn thành ngay trong năm; thực hiện điều chỉnh vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn trái phiếu Chính phủ; ở cấp huyện, đã cắt giảm, điều chuyển 07 công trình với tổng số vốn 7,3 tỷ đồng. Tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên trong 09 tháng với tổng kinh phí là 74,53 tỷ đồng và hướng dẫn sử dụng số tiền tiết kiệm này đúng chỉ đạo của Bộ Tài chính. Tạm dừng mua sắm xe ô tô, trang thiết bị văn phòng, sửa chữa trụ sở cơ quan hành chính với tổng kinh phí hơn 22 tỷ đồng. Giao Sở Tài chính tổng hợp danh mục thiết bị văn phòng, phương tiện làm việc và các tài sản khác có giá trị mua sắm dưới 100 triệu đồng (tính cho một gói mua sắm của một đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng ngân sách Nhà nước) nếu đảm bảo đủ 2 điều kiện: đã thực hiện rà soát, sắp xếp lại nhưng vẫn không đảm bảo được yêu cầu nhiệm vụ và đã được bố trí kinh phí mua sắm trong dự toán ngân sách đươc giao thì trình UBND tỉnh xem xét, quyết định. Thực hiện tiết kiệm tối đa các khoản chi Hội nghị, tiếp khách, xăng dầu, điện nước... Không bổ sung kinh phí ngoài dự toán, trừ trường hợp phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh hoặc cấp phát chế độ, chính sách của Nhà nước.   
8. Hiện đại hóa nền hành chính
UBND tỉnh ban hành Quyết định số 201/QĐ-UBND ngày 25/3/2011 về Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 427/QĐ-UBND ngày 10/6/2011 về việc giao quản lý tên miền interrnet “gialai.gov.vn”, “ubgialai.gov.vn”; Quyết định số 734/QĐ-UBND ngày 09/6/2011 về Kế hoạch hoạt động thông tin đối ngoại tỉnh Gia Lai năm 2011 và nhiều văn bản chỉ đạo về công tác quản lý Nhà nước lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Hiện toàn tỉnh có khoảng 130 mạng cục bộ (LAN); 80% máy tính được kết nối mạng; khối cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể có khoảng 6.422 máy tính, đạt tỷ lệ 0,62% cán bộ, công chức/máy tính. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan hành chính, có 08 cơ quan sử dụng phần mềm phục vụ công tác quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp; hệ thống thư điện tử công vụ đã chuyển sang sử dụng trên nền phần mềm mã nguồn mở với địa chỉ truy cập là http://mail.gialai.gov.vn. Triển khai và đưa vào thực hiện hội nghị truyền hình qua mạng, kết nối 20 điểm đầu cuối từ UBND tỉnh đến UBND các huyện, thị xã, thành phố vào tháng 8/2011, trung bình mỗi tháng có 02 cuộc họp trực tuyến giữa tỉnh và huyện. Có 1.713 dịch vụ hành chính công trực tuyến đạt mức độ 2 và 05 dịch vụ công trực tuyến (lĩnh vực báo chí, xuất bản) ở mức độ 3. Triển khai mô hình "Văn phòng điện tử" tại Sở Thông tin và Truyền thông, Trung tâm Công nghệ Thông tin thuộc Sở Thông tin và Truyền thông, UBND huyện Chư Sê và UBND huyện Đak Đoa. Mở 06 lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho 180 cán bộ, công chức, viên chức gồm: 03 lớp “Lắp ráp, cài đặt, xử lý sự cố máy tính và bảo trì các thiết bị ngoại vi” tại các huyện Ia Grai, huyện KBang, huyện Đak Pơ; 03 lớp “Mạng máy tính và An ninh mạng” tại các huyện Đức Cơ, huyện Chư Sê và thị xã Ayunpa. Tổ chức Hội thi Tin học trẻ tỉnh Gia Lai lần thứ XI; Hội thảo "Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống chính trị tỉnh Gia Lai"; phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp nhận dự án "Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam" do Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ; thực hiện dự án “Đầu tư xây dựng hệ thống bảo mật, an toàn thông tin trong hoạt động các cơ quan nhà nước tỉnh Gia Lai”.
Triển khai thực hiện và hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO để được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào cuối năm 2011 tại 04 cơ quan thí điểm gồm: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND thành phố Pleiku. Tiếp tục triển khai mở rộng ngay trong năm 2011 để sang năm 2012 cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại 16 cơ quan, đơn vị gồm: 09 cơ quan cấp tỉnh (Sở Giao thông Vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài chính, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Xây dựng, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Phát triển Lâm nghiệp), 07 UBND cấp huyện (Chư Păh, Chư Prông, Đức Cơ, Kbang, Krông Pa, Ia Grai, Mang Yang).
Giai đoạn 2011-2015, tỉnh có kế hoạch tổ chức đầu tư cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo các xã, phường, thị trấn đều có trụ sở làm việc, được trang bị phương tiện cần thiết và từng bước hiện đại hoá, bảo đảm tốt hệ thống truyền thanh, nhà bưu điện, nhà văn hoá để nhân dân tiếp nhận thông tin và hội họp.
II. Đánh giá chung
1. Những việc đã làm được
- Công tác chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của chính quyền từ tỉnh đến xã được nâng lên, xác định rõ các mục tiêu và khâu đột phá.
- Quá trình triển khai thực hiện cải cách hành chính đã cơ bản bám sát các mục tiêu, sản phẩm dự kiến và đạt được những kết quả tích cực, nhất là trong việc cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công.
- Công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở tỉnh được tăng cường, có cơ chế lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân có liên quan trước khi ban hành văn bản.
- Cải cách thủ tục hành chính cơ bản đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục.
- Cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã có nhiều chuyển biến tích cực, thay đổi thái độ phục vụ của công chức, bước đầu có cơ chế giám sát hoạt động của cơ quan hành chính.
- Chất lượng, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở tỉnh không ngừng được nâng lên, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
- Thực hiện nghiêm túc, chỉ đạo sát sao việc cắt giảm chi tiêu công, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính, bước đầu đã tiết kiệm được thời gian và giấy tờ, thông tin nhanh, giảm hội họp.
2. Những việc còn hạn chế:
- Hiện vẫn chưa có cơ chế đánh giá tác động của các thể chế sau khi ban hành, nhất là lấy ý kiến của người chịu tác động của văn bản ban hành và sự tham gia phản biện của  người có trình độ chuyên môn cao.
- Thông tin về hoạt động quản lý, điều hành của các cấp chính quyền chưa đảm bảo công khai đầy đủ, kịp thời. Do lý do chủ quan và khách quan nên một số mục tiêu cải cách hành chính đã được UBND tỉnh phê duyệt vẫn chưa được thực hiện đạt đạt yêu cầu đặt ra. 
- Rà soát, công bố, công khai thủ tục hành chính ở tỉnh còn chậm. Thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục bị ách tắc do sự chậm trễ của cấp trên. Năng lực bộ máy chưa tương xứng với yêu cầu kiểm soát thủ tục hành chính. Hiện chưa có cơ chế hợp lý để tiếp nhận thông tin phản hồi về quy định hành chính từ xã hội.
- Việc tổ chức lại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Sở ngành, UBND cấp huyện, UBND cấp xã vẫn chưa đảm bảo tiến độ và đầy đủ theo nội dung yêu cầu. Triển khai cơ chế một cửa liên thông còn thụ động, thiếu đồng bộ với cải cách thể chế và thủ tục hành chính. Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại bộ phận một cửa còn chưa đáp ứng tiêu chuẩn.
- Bộ máy chính quyền các cấp thay đổi nhanh, ảnh hưởng nhiều đến bố trí nhân lực, tính chuyên môn hóa. Một số tổ chức sau khi tổ chức lại chưa phát huy hiệu quả như công tác y tế, thanh niên, dân số - kế hoạch hóa gia đình ở cấp huyện; cần có đánh giá lại để sắp xếp bộ máy cho phù hợp.
- Chất lượng năng lực của đội ngũ cán bộ chưa được cải thiện tương xứng với nâng cao trình độ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa thật sự gắn với bố trí, sử dụng. Chưa thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao như mục tiêu đặt ra.
- Nhìn chung việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý.
- Mặc dù đã có văn bản chấn chỉnh, hướng dẫn song chế độ thông tin, báo cáo về công tác cải cách hành chính trong năm chưa đảm bảo yêu cầu (có phụ lục tổng hợp kèm theo báo cáo này).
III. Phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2012:
1. Triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính ở tỉnh trên cơ sở Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ, Nghị quyết của Tỉnh ủy và Kế hoạch, Chương trình mục tiêu của Bộ, ngành TW.
2. Tiếp tục rà soát, nâng cao hiệu quả, tính khả thi của các thể chế hành chính ở tỉnh theo kế hoạch hàng năm.
3. Tăng cường công tác khảo sát, đánh giá và kịp thời hướng dẫn, phối hợp, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông, thí điểm thành công cơ chế một cửa hiện đại tại thành phố Pleiku.
4. Thực hiện tốt việc công bố, công khai bộ thủ tục hành chính. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc tuân thủ các thủ tục đã được đơn giản hóa gắn với kiểm soát chặt chẽ thủ tục mới ban hành.
5. Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục có trọng tâm, trọng điểm, trên những lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, cản trở phát huy các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.
6. Có hệ thống giải pháp thích hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân phản hồi thông tin về các quy định hành chính của tỉnh.
7. Triển khai áp dụng bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của từng cơ quan, đơn vị. Xem đây là tiêu chuẩn hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; là cơ sở xét thi đua – khen thưởng và quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ.
8. Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo thẩm quyền được giao, lấy tiêu chí hiệu quả làm trọng. Từng bước xác định vị trí việc làm, cơ cấu công chức trong từng cơ quan hành chính, ổn định biên chế nhà nước để có cơ sở nâng cao hiệu quả khoán chi hành chính.
9. Thực hiện tốt thi tuyển công chức hành chính theo quy định, xét tuyển viên chức bảo đảm tính cạnh tranh công bằng trong tuyển dụng. Có kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng theo yêu cầu tại vị trí việc làm.
10. Tăng cường kiểm tra việc triển khai thực hiện Quy chế làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước, nhất là việc tuân thủ quy định văn hoá công sở, quy tắc ứng xử.
11. Đẩy mạnh ứng dựng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, xem đây là công tác mũi nhọn nhằm hiện đại hóa công sở hành chính. Thực hiện áp dụng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo kế hoạch đã ban hành.
12. Triển khai theo dõi, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính ở tỉnh theo phương pháp quản lý hệ thống mục tiêu, sản phẩm.

Trên đây là tình hình, kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2012 của tỉnh Gia Lai./.
         
                                                                         TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
                                                                                        CHỦ TỊCH
                                                                                            (Đã ký)

                                                                                       Phạm Thế Dũng

UBND tỉnh

Bản đồ hành chính

Thông tin thời tiết (18-05-2012)

KV phía tây tỉnh (Chư Pah, Ia Grai, Chư Prông, Chư Sê, Chư Pưh, Đak Đoa, Đức Cơ và TP. Pleiku) Mây thay đổi, ngày nắng, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi. Gió đổi hướng cấp 2 cấp 3. Nhiệt độ từ 22-330C
KV đông-đông bắc tỉnh (các huyện Mang Yang, Đak Pơ, Kbang, Kông Chro và thị xã An Khê) Mây thay đổi, có mưa rào và dông vài nơi về chiều tối và đêm. Ngày trời nắng. Gió đổi hướng cấp 2, cấp 3. Nhiệt độ từ 22-340C
KV đông nam tỉnh (Các huyện Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa và thị xã Ayun Pa) Mây thay đổi, ngày trời nắng nóng, chiều tối và đêm có dông và mưa rào vài nơi. Gió nhẹ. Nhiệt độ từ 23-370C