English Thứ Sáu, 18-05-2012, 05:46 (GMT+7)

Giới thiệu

Tin tức

Liên kết website


Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 2656094
Đang online: 13

BÁO CÁO SỐ 113/BC-UBND: Tổng kết 5 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng và Sơ kết giai đoạn thứ nhất Chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020

Đăng ngày:16-11-2011; 882 lần đọc
Ngày 10 tháng 11 năm 2011, UBND tỉnh Gia Lai đã có Báo cáo số 113/BC-UBND; gửi: Thanh tra Chính phủ; VP BCĐ TW về PCTN, TTr Tỉnh ủy, TTr HĐND tỉnh; UBMTTQVN tỉnh; lãnh đạo UBND tỉnh; các thành viên BCĐ tỉnh về PCTN; Thanh tra tỉnh; Cổng thông tin điện tử tỉnh Gia Lai trích đăng nguyên văn nội dung chính của Báo cáo như sau:

Thực hiện Công văn số 1886/TTCP-CIV ngày 19/7/2011 của Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn tổng kết 5 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng (PCTN) và sơ kết giai đoạn thứ nhất Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020. UBND tỉnh Gia Lai tổng hợp và báo cáo kết quả như sau:

 

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Trong những năm qua, với sự phấn đấu tích cực của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm giải quyết, dân chủ ngày càng được phát huy; an sinh xã hội và quốc phòng - an ninh được đảm bảo; hệ thống chính trị được kiện toàn và củng cố.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, biến chất về mặt đạo đức và có hành vi tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng. Trên địa bàn tỉnh, thời gian qua tuy có một số vụ việc tiêu cực, tham nhũng đã được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, song tình trạng tham nhũng vẫn chưa được ngăn chặn và đẩy lùi, tính chất ngày càng phức tạp, tinh vi hơn.
Xác định công tác đấu tranh PCTN là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường thực hiện công tác PCTN với quan điểm vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh, trong đó phòng ngừa là chính, là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3.
II. TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PCTN
1. Việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về PCTN; Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN
Sau khi Nghị quyết Trung ương 3 được ban hành, ngày 01/11/2006, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị để quán triệt đến cán bộ chủ chốt toàn tỉnh, xây dựng Chương trình hành động của Tỉnh ủy số 09-CTr/TU chỉ đạo các cấp ủy đảng, ban, ngành chức năng tổ chức quán triệt đến cán bộ, đảng viên và ban hành chương trình hành động thực hiện của địa phương, đơn vị về PCTN, lãng phí; giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai thực hiện; định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng, năm kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, chỉ đạo. Đến tháng 3 năm 2009, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục tổ chức Hội nghị quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (khóa X) cho cán bộ chủ chốt trong toàn tỉnh; trong đó có nội dung về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí. Sau hội nghị, các cấp ủy Đảng quán triệt đến đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị, địa phương để triển khai thực hiện.
Tháng 6/2011, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị cán bộ toàn tỉnh nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng; xây dựng Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng để sớm đưa Nghị quyết vào thực tế ở các địa phương, đơn vị trong tỉnh, trong đó đặc biệt chú trọng công tác cải cách hành chính; PCTN, lãng phí.
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chương trình hành động thực hiện Luật PCTN; Chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chương trình thực hiện Chiến lược Quốc gia PCTN đến năm 2020. Hàng năm ban hành kế hoạch thực hiện, trong đó xác định rõ lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm dễ phát sinh hành vi tham nhũng để các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai công tác PCTN, chống lãng phí đạt hiệu quả.
Ban Chỉ đạo tỉnh về PCTN đã phối hợp với Hội đồng Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tuyên tuyền, phổ biến pháp luật về PCTN, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí sâu rộng trong cán bộ, nhân dân. Các cấp, các ngành gắn việc quán triệt các quy định của pháp luật về PCTN, lãng phí với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo từng chuyên đề, bằng nhiều hình thức như: tổ chức tập huấn; phổ biến thông qua các buổi họp cơ quan; tổ chức diễn đàn “Phòng, chống tội phạm; phòng, chống tham nhũng, trách nhiệm của bạn”; in ấn, phát hành sổ tay bỏ túi, tài liệu tuyên truyền bằng tiếng phổ thông và tiếng J’rai, Bah Nar cho các thôn, làng, tổ dân phố; phát trên loa phóng thanh ở các cụm dân cư, lồng ghép trong các hội nghị tuyên truyền phổ biến pháp luật ở cấp xã.
Các cơ quan chức năng tập huấn các giải pháp phòng ngừa tham nhũng cho hơn 440 cán bộ chủ chốt các sở, ngành, huyện, thị xã, thành phố; hướng dẫn thực hiện việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập; chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; cải cách thủ tục hành chính…
Các cơ quan báo, đài mở chuyên mục PCTN phát định kỳ hàng tháng trên Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh và báo địa phương, nhằm thông tin về tình hình, kết quả công tác đấu tranh PCTN, lãng phí đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh. Thông qua các chuyên trang, chuyên mục này, nhiều vụ việc tiêu cực đã được phát hiện, phản ánh, xử lý kịp thời và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân trong tỉnh.
Nhìn chung, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức, tạo được sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, công chức và người dân. Tuy nhiên công tác tuyên truyền vẫn còn một vài hạn chế nhất định. Một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức chưa xem trọng công tác này nên việc tổ chức cũng như tham gia học tập còn mang tính hình thức, phương pháp tuyên truyền nhìn chung còn đơn điệu, chưa tác động mạnh mẽ đến nhân dân nhằm phát huy tối đa vai trò của toàn xã hội trong công tác đấu tranh PCTN.
2. Việc kiện toàn bộ máy chỉ đạo, các đơn vị chuyên trách về PCTN
Thực hiện Luật PCTN và Nghị quyết Trung ương 3, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo thành lập Ban Chỉ đạo và Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo tỉnh về PCTN. Sau khi có Nghị quyết 294A/2007/ UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quyết định 138/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã kiện toàn lại Ban Chỉ đạo tỉnh gồm 08 đồng chí, do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng Ban, 01 đồng chí Phó Trưởng Ban thường trực; chuyển đổi Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo thành Văn phòng Ban Chỉ đạo. Hiện Văn phòng Ban Chỉ đạo có 06 cán bộ, công chức, do đồng chí Phó Trưởng Ban kiêm Chánh Văn phòng phụ trách điều hành chung; 01 đồng chí giữ chức vụ Phó Chánh Văn phòng và 04 chuyên viên. Ban Chỉ đạo đã ban hành quyết định phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban Chỉ đạo; quy định về chức năng, nhiệm vụ và chế độ làm việc của Văn phòng Ban Chỉ đạo; UBND tỉnh quyết định thành lập phòng Nghiệp vụ và phòng Tổng hợp trực thuộc Văn phòng Ban Chỉ đạo; Văn phòng Ban Chỉ đạo đã tổ chức thực hiện công tác quy hoạch cán bộ theo quy định và  bổ nhiệm 01 Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ.
Theo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác PCTN và những quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo, với sự tham mưu, giúp việc tích cực của Văn phòng Ban Chỉ đạo, Ban Chỉ đạo tỉnh đã tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả. Ban Chỉ đạo duy trì tốt lịch sinh hoạt và các cuộc họp định kỳ hàng tháng để thông tin, trao đổi và chỉ đạo xử lý kịp thời các vụ việc tiêu cực, tham nhũng xảy ra trong tỉnh.
Các cơ quan chức năng trong tỉnh đã thành lập các đơn vị chuyên trách PCTN theo quy định. Thanh tra tỉnh thành lập Phòng pháp chế với chức năng, nhiệm vụ giúp Lãnh đạo cơ quan tổ chức, chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Công an tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo PCTN, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Tổ chuyên trách chống tham nhũng trực thuộc Phòng Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Quản lý kinh tế và chức vụ (PC46). Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh giao chức năng kiểm sát các vụ án tham nhũng cho Phòng Kiểm sát Điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự án kinh tế và chức vụ (Phòng I). Các đơn vị chuyên trách này đã tích cực phát huy vai trò của mình trong đấu tranh chống tội phạm tham nhũng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PCTN của tỉnh.
3. Việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng
+ Thực hiện công khai, dân chủ trong công tác cán bộ:
Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nghiêm túc thực hiện công khai, dân chủ trong công tác cán bộ, chú trọng công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục, quy trình tuyển dụng, tiếp nhận công chức, viên chức, có chính sách đãi ngộ thích hợp để thu hút lao động có chất lượng cao từ nơi khác đến làm việc trong tỉnh; chỉ đạo Sở Nội vụ thường xuyên kiểm tra công tác nội vụ tại các cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm hạn chế, chấn chỉnh kịp thời các sai phạm. Công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo đúng quy trình, quy định của Nhà nước.
+ Thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức:
Thực hiện quy định về chuyển đổi vị trí công tác cán bộ, công chức, viên chức, tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương lập kế hoạch và danh sách cán bộ, công chức, viên chức phải  định kỳ chuyển đổi, đảm bảo có thảo luận thống nhất, công khai cho tất cả cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị biết, thực hiện và giám sát thực hiện. Tính đến nay, có 31/45 sở, ban, ngành và 15/17 huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng kế hoạch và đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với 568 cán bộ, công chức, viên chức. Một số cơ quan, đơn vị tuy đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức nhưng còn lúng túng, vướng mắc khi triển khai thực hiện. Nguyên nhân chủ yếu do một số vị trí  phải chuyển đổi nhưng trong đơn vị chỉ có duy nhất một người đảm nhiệm nên không thể thực hiện chuyển đổi hoặc do một số vị trí công tác yêu cầu trình độ chuyên môn sâu, cần có thời gian dài để am hiểu, thích ứng với công việc, nên nếu thực hiện chuyển đổi theo đúng thời gian quy định thì hiệu quả công việc không cao, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc chung của cơ quan, đơn vị.
+ Việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra những vụ tham nhũng được thực hiện kịp thời, nghiêm minh theo mức độ trách nhiệm nên hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng tại cơ quan, đơn vị được nâng lên, điển hình có một số đơn vị, địa phương thực hiện tốt như: Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh, huyện Đăk Đoa, Chư Prông, Chư Sê...
+ Thực hiện quyền tự chủ về tài chính, biên chế và giao khoán kinh phí hoạt động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị có đủ điều kiện; thực hiện việc trả lương qua tài khoản:
Các cơ quan, đơn vị tự chủ về tài chính, biên chế đều xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, xác định nội dung chi, mức chi cụ thể trên cơ sở chế độ quy định nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức. Hiện 100% cơ quan hành chính Nhà nước và gần 60% các đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính, đảm bảo trích đủ 10% tiết kiệm chi thường xuyên, 35% số thu được để lại theo chế độ, 40% thu sự nghiệp để dành nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo chỉ đạo của Chính phủ. Các đơn vị còn lại (chủ yếu ở cấp huyện) đang tiếp tục xây dựng phương án để thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định. Bên cạnh đó, đã chỉ đạo rà soát và yêu cầu các sở, ngành, ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố sử dụng hiệu quả biên chế được giao, những đơn vị sử dụng dưới 90% biên chế được giao, tỉnh sẽ xem xét, cắt giảm chỉ tiêu biên chế.
Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về chi trả lương cho cán bộ, công chức qua tài khoản ngân hàng, tỉnh đã chỉ đạo cho các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc. Đến nay hầu hết các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh đã triển khai thực hiện. Đối với một số ít huyện, do các chi nhánh ngân hàng chưa lắp đặt máy ATM nên chưa triển khai thực hiện.
+ Minh bạch về tài sản, thu nhập của đảng viên, cán bộ, công chức:
Tỉnh đã tổ chức lớp tập huấn về công tác kê khai tài sản, thu nhập và chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tổ chức thực hiện đối với các đối tượng thuộc diện phải kê khai theo quy định, đồng thời thường xuyên có văn bản nhắc nhở, nên đến nay công tác kê khai tài sản, thu nhập đã được thực hiện nghiêm túc, đi vào nề nếp. Năm 2007, 2008 có 5.279 người kê khai lần đầu đạt 100%; năm 2009 có 722 người kê khai lần đầu và 7.460 người kê khai bổ sung đạt 100%; năm 2010 có 1.657 người kê khai lần đầu và 5.659 người kê khai bổ sung đạt 100%.
Hàng năm, Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng tổ chức thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập đối với đảng viên theo quy định. Tuy nhiên việc đảng viên báo cáo kết quả kê khai trước chi bộ và cấp ủy viên báo cáo trong cấp ủy chưa được thực hiện mà chỉ nộp lưu bản kê khai trong hồ sơ đảng viên.
+ Xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử của đảng viên, cán bộ, công chức; việc tặng quà, nhận quà, từ chối nhận quà và nộp lại quà tặng:
Việc thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức được các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc. Một số cơ quan, đơn vị tiến hành cụ thể hóa “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức” gắn với cải cách thủ tục hành chính, thực hiện Quy chế Văn hóa công sở và nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị đều thi hành đúng chức trách, nhiệm vụ của mình theo các chuẩn mực pháp luật quy định.
Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương không được dùng Ngân sách Nhà nước mua quà tặng, quà biếu sai quy định; nghiêm cấm các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức nhận quà tặng của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không đúng chế độ, định mức, đối tượng pháp luật quy định, nhất là trong các dịp lễ, tết; thực hiện nghiêm quy chế về tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng. Qua kiểm tra của các cấp, các ngành, đến nay chưa phát hiện trường hợp nào dùng Ngân sách Nhà nước mua quà biếu sai quy định và chưa có trường hợp nào nộp lại quà tặng.
+ Công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị:
Ủy ban nhân dân các cấp, các sở, ban, ngành triển khai thực hiện công khai, minh bạch ở hầu hết các lĩnh vực trong hoạt động của mình; chú trọng công khai, minh bạch trong những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng như: Quản lý, sử dụng đất đai; thu, chi tài chính; mua sắm tài sản công; xây dựng cơ bản; thực hiện nghiêm quy chế dân chủ cơ sở ở mỗi đơn vị. Tỉnh đã công bố và đăng tải trên website của Ủy ban nhân dân tỉnh toàn bộ nội dung các bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại cấp huyện, cấp xã và in thành sách gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện trong toàn tỉnh. Đến nay chưa phát hiện cơ quan, đơn vị nào vi phạm quy định về thực hiện công khai, minh bạch.
+ Công tác cải cách hành chính:
Công tác cải cách hành chính được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo quyết liệt và xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh. Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh đều ban hành Chương trình hành động đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung cải cách thủ tục hành chính; chỉ đạo đẩy mạnh và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong tỉnh. Đến nay có 100% sở, ban, ngành thuộc tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện và 194/222 xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện cơ chế một cửa (số xã chưa thực hiện là xã vùng 3 do điều kiện khó khăn và chưa có nhu cầu). Triển khai thực hiện thí điểm cơ chế một cửa liên thông tại 05 cơ quan cấp tỉnh và 16 đơn vị cấp xã của 06 huyện, thị xã đã rút ngắn được thời gian giải quyết công việc, giảm phiền hà cho công dân, tổ chức và hạn chế tình trạng tiêu cực. Hiện đang triển khai chuyển từ giai đoạn thí điểm sang giai đoạn mở rộng thực hiện cơ chế một cửa liên thông đồng thời thí điểm thực hiện cơ chế một cửa hiện đại. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch áp dụng hệ thống Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh, hiện đang áp dụng thí điểm tại 04 cơ quan, mở rộng thực hiện tại 08 cơ quan cấp tỉnh.
Thực hiện Đề án 30 của Chính phủ, tỉnh đã thành lập Tổ công tác tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc chỉ đạo thực hiện, Giai đoạn 1, đã công bố 1.716 thủ tục hành chính, 631 mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành đúng tiến độ. Giai đoạn 2, tỉnh ban hành Quyết định thông qua phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh: có 1.716 thủ tục được rà soát (trong đó có 1.164 thủ tục được đơn giản hóa và kiến nghị đơn giản hóa) đạt 67,8%, vượt chỉ tiêu đơn giản hóa do Thủ tướng Chính phủ giao (vượt 37,8%).
Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức tổng kết việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010; đang xây dựng chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; ban hành kế hoạch nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính tỉnh, huyện, xã giai đoạn 2011-2015. Theo đó, mục tiêu đề ra đến năm 2015, có 100% các cơ quan hành chính ở địa phương duy trì thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa; 100% công việc của tổ chức, công dân cần liên thông trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan hành chính cùng cấp hoặc giữa các cấp phải được thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông; 30% sở, ban, ngành, UBND cấp huyện thực hiện cơ chế một cửa hiện đại, thí điểm thực hiện cơ chế một cửa hiện đại tại một số phường trong tỉnh; áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng TCVN ISO 9001:2008 đối với tất cả các công việc thường xuyên liên quan trực tiếp tới tổ chức, công dân tại cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện; 100% Sở ngành và UBND cấp huyện đạt mức độ 2  đối với tất cả các dịch vụ công trực tuyến và đạt mức độ 3 đối với các dịch vụ công cơ bản trực tuyến; 100% cán bộ, công chức bố trí làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được lựa chọn đáp ứng những yêu cầu cần thiết về phẩm chất, khả năng giao tiếp, năng lực nhiệm vụ chuyên môn… Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã quyết định thành lập Phòng kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng UBND tỉnh để thực hiện Nghị định 63/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Chỉ đạo thông tin việc tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính trong Chương trình Thời sự địa phương; tổ chức tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính trên địa bàn tỉnh.
Hiện đang thử nghiệm Hội nghị qua mạng trực tuyến tại 19 cơ quan, đơn vị (gồm 17 đơn vị cấp huyện, Trung tâm công nghệ công tin thuộc Sở Thông tin & Truyền thông và Trung tâm tin học thuộc Văn phòng UBND tỉnh); nâng cấp thêm 800 tài khoản thư điện tử (Email) cho các cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước tại địa phương; xây dựng xong hệ thống bảo mật, an toàn thông tin trong hoạt động các cơ quan nhà nước ở tỉnh.
Chỉ đạo, hướng dẫn các sở, ngành, địa phương tổ chức lại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại một đầu mối Văn phòng Sở, Văn phòng HĐND-UBND cấp huyện, thị xã, thành phố; triển khai các bước thực hiện cơ chế một cửa liên thông đối với các thủ tục hành chính phải liên thông giải quyết giữa các cơ quan hành chính cùng cấp và các cấp; Văn phòng UBND tỉnh khảo sát, đánh giá đề xuất giải quyết các bức xúc về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, đăng ký kinh doanh, đầu tư xây dựng; Sở Tài chính hướng dẫn các cơ quan, đơn vị về cơ chế tài chính để đảm bảo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh.
+ Quản lý, sử dụng đất đai, công sở và phương tiện, thiết bị đi lại, làm việc:
Tỉnh chỉ đạo rà soát lại toàn bộ diện tích đất đai, nhà làm việc của các đơn vị hành chính sự nghiệp và nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước đang cho thuê. Trên cơ sở đó, tiến hành xây dựng phương án sắp xếp, điều chuyển, xử lý đất đai, trụ sở, nhà ở; thực hiện sắp xếp một số cơ quan quản lý nhà nước vào trong khu làm việc Liên cơ quan để bố trí đất đai và trụ sở làm việc cho các cơ quan khác, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện xây dựng công sở, nhà công vụ đúng tiêu chuẩn, sử dụng đúng mục đích, không cho thuê nhà, đất công sở vào các mục đích khác.
Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các ngành, đơn vị, địa phương rà soát, sắp xếp lại phương tiện đi lại, thiết bị làm việc theo tiêu chuẩn, quy định của nhà nước, đảm bảo sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí. Đã thực hiện điều chuyển xe ô tô từ đơn vị không có nhu cầu sử dụng sang các đơn vị có nhu cầu với tổng giá trị còn lại trên 8 tỷ đồng.
+ Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản:
            Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo việc lập kế hoạch, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải được thực hiện đúng nguyên tắc, phù hợp với danh mục dự án đầu tư được duyệt, tính chất, quy mô, tiến độ, yêu cầu của dự án đầu tư và khả năng của Ngân sách Nhà nước, tránh tình trạng bố trí vốn dàn trải, kéo dài thời gian xây dựng, tập trung vốn đầu tư cho các công trình trọng điểm, cấp bách nhằm sớm đưa vào sử dụng, khai thác có hiệu quả. Thường xuyên rà soát, xử lý và kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý danh mục dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt, các dự án không có hiệu quả, sai quy định.
+ Hoạt động mua sắm công và công tác thu, chi ngân sách:
Tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương trước khi mua sắm, trang bị tài sản mới phải tiến hành rà soát lại tài sản được giao quản lý, sử dụng để tránh mua sắm lãng phí. Các đơn vị hành chính sự nghiệp khi mua sắm đều phải căn cứ vào dự toán ngân sách Nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt và thông qua công tác thẩm định, kiểm tra của cơ quan tài chính đối với toàn bộ quy trình mua sắm trước khi thanh toán.
Trên cơ sở quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách của Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan, đơn vị sử dụng dự toán đều thực hiện đúng pháp luật ngân sách trong việc lập, chấp hành, kế toán, quyết toán ngân sách Nhà nước, hạn chế chi ngoài dự toán, kế hoạch.
+ Quản lý, sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu, chương trình quốc gia, kinh phí nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ:
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định quy định định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh có sử dụng ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ. Các đề tài và dự án của tỉnh được thực hiện theo đúng quy định của nhà nước, nguồn ngân sách của tỉnh cấp cho các chương trình, đề tài, dự án đều được sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra sản phẩm khoa học cụ thể hướng vào việc thực hiện các mục tiêu quan trọng về phát triển xã hội cũng như xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định về chủ trương, chính sách của địa phương.
+ Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên:
Chỉ đạo các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác quán triệt, tuyên truyền cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, thực hiện tiết kiệm trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Cấp giấy phép khai thác khoáng sản đúng quy định và thường xuyên kiểm tra, thanh tra xử lý các hành vi vi phạm, thu hồi giấy phép đối với các đơn vị khai thác không hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường; tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng; kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép; rà soát các quy hoạch thủy lợi, thủy điện trên địa bàn tỉnh để có phương án quản lý, xây dựng và khai thác có hiệu quả.
4. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN
Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, Thanh tra tỉnh đã triển khai thực hiện các cuộc thanh tra theo đúng kế hoạch UBND tỉnh phê duyệt. Ngoài ra, Thanh tra tỉnh còn thanh tra các nội dung, đơn vị được UBND tỉnh ra quyết định thanh tra liên quan đến công tác thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN. Từ lúc thành lập phòng Pháp Chế đến nay, Thanh tra tỉnh đã triển khai 17 cuộc thanh tra, 03 cuộc kiểm tra tại 35 đơn vị. Nội dung thanh tra liên quan đến việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, thu, chi ngân sách, thực hiện các chương trình, dự án...
Qua thanh tra đã phát hiện một số sai phạm như: một số cơ quan, địa phương chưa thực hiện chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị định 158/2007/NĐ-CP, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa thật sự sâu rộng, việc kê khai tài sản còn chậm so với quy định của Chính phủ.
Bên cạnh đó, tính đến nay, Ban Chỉ đạo và Văn phòng Ban Chỉ đạo đã tiến hành 74 cuộc kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN tại các sở, ngành, UBND cấp huyện. Qua kiểm tra, đã kịp thời chấn chỉnh sai phạm của từng địa phương, đơn vị, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện đầy đủ, đúng quy định các giải pháp về phòng ngừa tham nhũng và tăng cường tự kiểm tra phát hiện, xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức có hành vi tiêu cực, tham nhũng.
Đối với thanh tra của các sở, ngành, địa phương: hằng năm thực hiện hướng dẫn của Thanh tra tỉnh, các sở ngành, huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Từ ngày 01/7/2006 đến 30/9/2011 đã triển khai 401 cuộc thanh tra đối với 485 đơn vị và 228 cuộc kiểm tra 251 đơn vị. Phát hiện một số sai phạm, thiếu sót trong việc thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, xây dựng Chương trình kế hoạch PCTN, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chương trình, kế hoạch PCTN.
5. Tình hình tham nhũng và kết quả phát hiện, xử lý tham nhũng
+ Việc tự kiểm tra, giám sát phát hiện sai phạm trong nội bộ tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, phát hiện của các cơ quan quản lý cấp trên:
Tỉnh thường xuyên chỉ đạo các cấp ủy, các cơ quan, đơn vị, địa phương tăng cường công tác tự kiểm tra phát hiện sai phạm trong nội bộ tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị và tổ chức xử lý nghiêm, không bao che đối với những cá nhân có sai phạm, nhất là sai phạm trong lĩnh vực PCTN. Tuy nhiên, việc các cơ quan, đơn vị tự kiểm tra phát hiện hành vi tham nhũng còn hạn chế; nhiều đơn vị chưa phát hiện ra vụ việc tham nhũng nào trong khi dư luận xã hội về hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức các đơn vị này vẫn còn. Đến nay, trên địa bàn tỉnh chỉ có 01 đơn vị báo cáo tự kiểm tra phát hiện 02 vụ tham ô với số tiền 66 triệu đồng, đã thu hồi tiền và xử lý kỷ luật 03 cán bộ có hành vi vi phạm.
+ Việc tiếp nhận và xử lý đơn, thư tố cáo tham nhũng:
Các cấp, các ngành thực hiện tốt công tác tiếp công dân và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh xử lý nghiêm cán bộ, công chức có hành vi vi phạm, còn tổ chức kiểm điểm nghiêm túc đối với người tố cáo đã lợi dụng tố cáo sai sự thật, hạ thấp uy tín, danh dự cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ. Hàng tuần, Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với dân vào sáng thứ bảy, đã giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc khiếu nại phức tạp. Từ năm 2007 đến 30/9/2011, toàn tỉnh tiếp nhận 280 đơn thư tố cáo có liên quan đến hành vi tham nhũng, nội dung chủ yếu là phản ánh các hành vi có dấu hiệu tiêu cực trong các lĩnh vực như: quản lý, bảo vệ rừng; quản lý, sử dụng đất đai; thu, chi tài chính; đầu tư xây dựng cơ bản… Sau khi nghiên cứu, lưu 92 đơn (đơn trùng, đơn không đủ điều kiện giải quyết), thuộc thẩm quyền giải quyết 188 đơn. Đã xác minh, giải quyết xong 186 đơn (trong đó 21 đơn tố cáo đúng, 41 đơn tố cáo đúng một phần, 120 đơn tố cáo sai, 04 đơn không có cơ sở kết luận). Qua giải quyết, kiến nghị thu hồi số tiền sai phạm 985,7 triệu đồng; thu hồi 825m2 đất; kiến nghị xử lý hành chính 34 cán bộ, công chức; xử lý kỷ luật Đảng 02 đảng viên; chuyển công tác 02 cán bộ, công chức; kiểm điểm 12 cán bộ, chiến sỹ do có sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật; trả lại cho công dân 15 triệu đồng; phát hiện 04 vụ có liên quan đến tham nhũng, chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra 02 vụ. Hiện còn 02 đơn đang được xem xét, giải quyết.
+ Công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tham nhũng và sự phối hợp giữa các cơ quan trong phát hiện, xử lý tham nhũng:
. Công tác thanh tra: Từ đầu năm 2007 đến hết tháng 9/2011, ngành Thanh tra đã triển khai 499 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực: tài chính ngân sách; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý, sử dụng đất đai; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thuế; chương trình 134, 135; khoa học công nghệ, cổ phần hóa...  tại 3.597 đơn vị. Đã kết thúc 440 cuộc, có 1.238 đơn vị sai phạm. Qua thanh tra, phát hiện sai phạm hơn 54 tỷ đồng; kiến nghị thu hồi nộp Ngân sách Nhà nước gần 35,9 tỷ đồng; ghi thu, ghi chi 1,3 tỷ đồng; đề nghị điều chỉnh dự toán, quyết toán 312 triệu đồng; giảm chi khi thanh toán hơn 2,5 tỷ đồng; trả lại cho tập thể 288 triệu đồng; trả cho cá nhân gần 71 triệu đồng; kiến nghị thu hồi 400m2 đất các loại; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 204 cá nhân vi phạm. Các đơn vị sai phạm đã thực hiện nộp vào Ngân sách Nhà nước 12,3 tỷ đồng.
Qua thanh tra, phát hiện 09 vụ có liên quan đến hành vi tham nhũng với số tiền vi phạm 472,5 triệu đồng; chuyển hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra để tiếp tục điều tra làm rõ 06 vụ.
Ngoài ra, các cơ quan thanh tra đã kết thúc 48/52 cuộc thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về PCTN, phát hiện sai phạm 2,67 tỷ đồng; kiến nghị thu hồi nộp Ngân sách Nhà nước 2,57 tỷ đồng; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 02 người; chuyển sang cơ quan điều tra 01 vụ tham nhũng số tiền 338 triệu đồng.
. Công tác điều tra: Cơ quan điều tra hai cấp của tỉnh đã thụ lý 24 vụ, 40 bị can (trong đó có 01 vụ chưa khởi tố bị can) gồm: 14 vụ tham ô tài sản; 03 vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; 03 vụ lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; 01 vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; 01 vụ giả mạo trong công tác; 02 vụ nhận hối lộ với tổng số tiền vi phạm trên 1,3 tỷ đồng. Đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố 23 vụ, 40 bị can; chuyển xử lý hành chính 01 vụ tham ô tài sản.
. Công tác truy tố: Cơ quan kiểm sát hai cấp thụ lý 23 vụ, 40 bị can. Đã ra quyết định truy tố chuyển Tòa án 22 vụ, 38 bị can; đình chỉ điều tra miễn truy cứu trách nhiệm hình sự 01 vụ, 02 bị can.
. Công tác xét xử: Các Tòa án trong tỉnh thụ lý 22 vụ, 38 bị cáo. Đã đưa ra xét xử sơ thẩm cả 22 vụ, 38 bị cáo (trong đó có 08 vụ, 16 bị cáo được hưởng án treo; 01 vụ, 02 bị cáo cải tạo không giam giữ).
. Công tác kiểm tra: Các cấp ủy đảng đã triển khai thực hiện đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng, tập trung kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, nhất là biểu hiện tiêu cực, tham ô, tham nhũng, cố ý làm trái vụ lợi cá nhân, gắn với giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đảng viên, nhất là đơn thư tồn đọng, kéo dài, dư luận xã hội quan tâm.
Tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng chủ động phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc giải quyết các vụ việc, vụ án tham nhũng. Ngoài ra, Ban Chỉ đạo tỉnh về PCTN đã tích cực chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc các cơ quan, đơn vị tập trung xử lý kịp thời khi các hành vi tham nhũng xảy ra. Do đó hầu như các vụ việc, vụ án tham nhũng phát sinh trong thời gian qua đều được giải quyết dứt điểm, kịp thời, đúng quy định pháp luật.
Trong những năm qua, các vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện trên địa bàn tỉnh chủ yếu do cán bộ, công chức cấp cơ sở thực hiện; chưa phát hiện đảng viên thuộc cấp ủy quản lý có hành vi hoặc dấu hiệu tham nhũng.
6. Vai trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTN
Ban Chỉ đạo tỉnh đã ban hành quy chế phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy trong PCTN. Định kỳ họp Ban Chỉ đạo có sự tham dự của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đã phát huy vai trò giám sát việc thực hiện pháp luật về PCTN và vai trò của nhân dân trong việc lên án, phát hiện, tố cáo các hành vi tiêu cực, tham nhũng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
7. Việc thực hiện Kế hoạch của chính phủ, Kế hoạch của bộ, ngành, địa phương thực hiện giai đoạn thứ nhất Chiến lược quốc gia PCTN
Thực hiện Giai đoạn thứ nhất của chiến lược quốc gia PCTN là đồng bộ các giải pháp, trong đó tập trung vào các giải pháp nâng cao năng lực phát hiện xử lý các hành vi tham nhũng. Đẩy mạnh xử lý những vụ việc tham nhũng nổi cộm, gây bức xúc trong nhân dân; tập trung rà soát những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng.
Thực hiện Kế hoạch của chính phủ, UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch của tỉnh về công tác PCTN, thực hiện chiến lược quốc gia PCTN. UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở ban ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia về PCTN. Bước đầu các đơn vị đã xây dựng, tổ chức tuyên truyền Chiến lược quốc gia về PCTN và thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN.
Ngoài ra, các sở ban ngành thường xuyên đóng góp ý kiến, đưa ra các kiến nghị đối với việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN ở địa phương.
Xây dựng các cơ quan chuyên trách về PCTN, quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm thực quyền và hoạt động có hiệu quả.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG
Trong những năm qua, công tác PCTN, lãng phí trên địa bàn tỉnh được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Công tác tuyên truyền, giáo dục về PCTN gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo được sự chuyển biến trong nhận thức, ý thức và trở thành hành động trong PCTN. Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng đang dần phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả thiết thực; các vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, một số vụ việc, vụ án phức tạp, tồn đọng kéo dài được xử lý dứt điểm. Việc thành lập và đi vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về PCTN đã giúp cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ về PCTN có phần thuận lợi hơn. Vì vậy, công tác PCTN trong những năm qua đã có chuyển biến tích cực hơn so với trước đây; số vụ việc, vụ án tham nhũng giảm dần qua các năm, tính chất, mức độ ít nghiêm trọng hơn; ở một số lĩnh vực, tình trạng tham nhũng, lãng phí từng bước được kiềm chế. Mặc dù hiệu quả công tác PCTN tỉnh còn thấp so với yêu cầu nhiệm vụ đề ra, chưa đạt được mục tiêu đẩy lùi hành vi tham nhũng theo Nghị quyết Trung ương 3, nhưng với những giải pháp mà tỉnh thực hiện đã tích cực góp phần ngăn chặn và kiềm chế hành vi tham nhũng xảy ra trên địa bàn tỉnh trong những năm vừa qua.
IV. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ - KIẾN NGHỊ
1. Phương hướng, nhiệm vụ
Tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Luật PCTN, gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên trong rèn luyện đạo đức lối sống, đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.
Đề cao trách nhiệm của các cấp ủy đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên trong việc tự phát hiện, xử lý các vụ việc tham nhũng, lãng phí, không bao che, dung túng, né tránh hoặc trông chờ, ỷ lại cấp trên và sự phát hiện từ bên ngoài.
Các cấp ủy đảng cần tập trung chỉ đạo thường xuyên nhằm tạo sự phối hợp đồng bộ, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong công tác PCTN, lãng phí; khuyến khích việc đưa tin, bài phản ánh về hoạt động PCTN và các vụ việc tham nhũng, lãng phí; biểu dương kịp thời những điển hình tốt, những tấm gương tiêu biểu trong phòng, chống tham nhũng, lên án, kiên quyết đấu tranh với các hành vi tham nhũng, lãng phí.
Đẩy mạnh các giải pháp về phòng ngừa tham nhũng như: Cải cách thủ tục hành chính; chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức; công khai hoạt động của cơ quan, đơn vị; kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập...
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý các vụ việc tham nhũng, nhất là những vụ việc phức tạp mà dư luận xã hội quan tâm. Giải quyết kịp thời các tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí; quan tâm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, đối thoại với công dân ở các ngành, các cấp, gắn với việc nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Nâng cao vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận, Hội đồng nhân dân các cấp đối với hoạt động PCTN, trước hết là giám sát hoạt động của các đơn vị chuyên trách chống tham nhũng để có kiến nghị với các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện các biện pháp PCTN có hiệu quả.
Nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh về PCTN và các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong phát hiện, xử lý các vụ việc tham nhũng.
Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình Chiến lược Quốc gia về PCTN đến năm 2020.
2. Kiến nghị, đề xuất
Các cơ quan chức năng ở Trung ương nghiên cứu sửa đổi, nâng cao tính khả thi của một số văn bản pháp luật về phòng ngừa tham nhũng như: kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, thực hiện thí điểm cơ chế kiểm tra việc kê khai, tài sản, thu nhập đối với một số chức danh chủ chốt; quy định về việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức sao cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả công tác của người được chuyển đổi vị trí và của cơ quan, đơn vị; đồng thời cần có các văn bản pháp quy quy định cụ thể về mức độ xử lý hành vi tham nhũng; quy định về cơ chế và biện pháp đảm bảo tính hiệu lực trong việc thực thi các quyết định, kết luận của các cơ quan hành chính về hành vi tham nhũng.
Nghiên cứu hoàn thiện mô hình các cơ quan chuyên trách về PCTN theo hướng thống nhất từ Trung ương đến địa phương, quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm thực quyền và hoạt động có hiệu quả.
Trên đây là báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Luật PCTN và báo cáo sơ kết giai đoạn thứ nhất Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 của tỉnh Gia Lai./.
 
                                        TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

                                           CHỦ TỊCH

                                                                                               (Đã ký)
                                                                             Phạm Thế Dũng
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
       PHỤ LỤC
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Kết quả thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện Luật PCTN 5 năm
(Từ 01/7/2006 đến 30/9/2011)
Kèm theo Báo cáo số    113 /BC-UBND của UBND tỉnh Gia Lai ngày   10/11/2011
 
TT
DIỄN GIẢI
Tổng
cộng
Trong đó
Thanh tra
 tỉnh
Thanh tra
sở
Thanh tra
 huyện
1
Số cuộc thanh tra theo kế hoạch
445
15
207
223
2
Số cuộc kiểm tra theo kế hoạch
231
3
149
79
3
Số cuộc thanh tra đã triển khai
418
17
190
211
4
Số cuộc kiểm tra đã triển khai
231
3
149
79
5
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị được
 thanh tra
504
19
262
223
6
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị được
 kiểm tra
267
16
157
94
7
Số cuộc thanh tra đã có kết luận
417
17
190
210
8
Số cuộc kiểm tra đã có kết luận
219
3
146
70
9
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị đã
được kết luận có vi phạm, thiếu
sót trong việc
44
 
8
36
 
- Xây dựng Chương trình kế hoạch
PCTN
14
 
6
8
 
- Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực
hiện chương trình, kế hoạch PCTN
10
 
2
8
 
- Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt
 chủ trương, chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước về PCTN
3
 
 
3
 
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị bị kết
luận có vi phạm, thiếu sót trong thực
hiện quy định về PCTN (Phân tích
chi tiết số cơ quan, tổ chức, đơn vị
có vi phạm, thiếu sót trong thực
hiện các quy định về phòng ngừa
tham nhũng theo các nội dung sau)
 
 
 
 
 
- Công khai, minh bạch trong
mua sắm công
 
 
 
 
 
- Công khai, minh bạch trong
quản lý dự án đầu tư xây dựng
 
 
 
 
 
- Công khai, minh bạch trong
việc huy động và sử dụng
các khoản đóng góp của nhân dân
 
 
 
 
 
- Công khai, minh bạch việc quản lý,
 sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ
 
 
 
 
 
- Công khai, minh bạch trong
quản lý đất đai, tài sản công
 
 
 
 
 
- Công khai, minh bạch trong
tổ chức cán bộ
 
 
 
 
 
- Trách nhiệm cung cấp thông tin
 
 
 
 
 
- Cải cách thủ tục hành chính
 
 
 
 
 
- Đổi mới công nghệ quản lý
 
 
 
 
 
- Xây dựng các chế độ,
định mức, tiêu chuẩn
 
 
 
 
 
- Thực hiện các chế độ,
 định mức, tiêu chuẩn
15
 
 
15
 
- Chuyển đổi vị trí công tác của
cán bộ, công chức, viên chức
2
 
 
2
 
- Thực hiện các kiến nghị, quyết định
xử lý sau thanh tra, kiểm tra,
điều tra, kiểm toán
 
 
 
 
 
- Xử lý thông tin, giải quyết tố cáo
về dấu hiệu tham nhũng trong nội bộ,
theo chức năng quản lý nhà nước
 
 
 
 
 
- Thực hiện chế độ thông tin,
báo cáo về công tác PCTN
 
 
 
 
10
Số người đã có kết luận vi phạm quy
 định về kê khai tài sản, thu nhập
 
 
 
 
11
Số người bị xử lý kỷ luật do vi phạm
 quy định về kê khai tài sản, thu nhập
 
 
 
 
12
Số người đã có kết luận vi phạm quy
 định về nhận quà, nộp lại quà tặng
 
 
 
 
13
Số người đã bị xử lý kỷ luật do vi
phạm quy định về nhận quà,
nộp lại quà tặng
 
 
 
 
14
Số người đã có kết luận vi phạm
Quy tắc ứng xử của CBCC, VC
4
 
 
4
15
Số người đã bị xử lý kỷ luật
do vi phạm Quy tắc ứng xử
4
 
 
4
16
Số người đứng đầu cơ quan,
 tổ chức, đơn vị bị xử lý trách nhiệm
do để xảy ra tham nhũng
 
 
 
 
17
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị đã
bị kết luận có các vi phạm, thiếu sót
trong việc phát hiện, xử lý hành vi
tham nhũng
 
 
 
 
18
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị đã bị
kết luận có vi phạm, thiếu sót khác
trong việc thực hiện các quy định
 của Luật PCTN
 
 
 
 
 
 
 
PHỤ LỤC
 
 
 
 
 
THỐNG KÊ SỐ LIỆU CHỦ YẾU
VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 5 NĂM (từ 01/7/2006 đến 30/9/2011)
(Kèm theo báo cáo số   113 /BC-UBND ngày   10/11/2011 của UBND tỉnh Gia Lai
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MS
Nội dung
Đơn vị tính
Kết quả
 
CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT
 
 
1
Số văn bản ban hành mới để thực hiện Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành
Văn bản
409
2
Số văn bản đã được sửa đổi, bổ sung để thực hiện luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành
văn bản
7
 
TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ PCTN
 
 
3
Số lượt cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân tham gia các lớp tập huấn, quán triệt pháp luật về PCTN
 Lượt người
309529
4
Số lớp tuyên truyền, quán triệt pháp luật về PCTN được tổ chức
lớp
156
5
Số lượng đầu sách, tài liệu về pháp luật PCTN được xuất bản
Cuốn
4734
 
THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA THAM NHŨNG
 
 
 
Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (gọi chung là đơn vị)
 
 
6
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị được kiểm tra việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch
CQ, TC
35
7
Số cơ quan, tổ chức, đơn vị bị phát hiện có vi phạm quy định về công khai, minh bạch
CQ, TC
0
 
Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn
 
 
8
Số văn bản về chế độ, định mức, tiêu chuẩn được ban hành mới
Văn bản
14
9
Số văn bản về chế độ, định mức, tiêu chuẩn được hủy bỏ hoặc sữa đổi, bổ sung cho phù hợp
Văn bản
1
10
Số cuộc kiểm tra việc thực hiện các quy định về chế độ, định mức tiêu chuẩn
Cuộc
35
11
Số vụ vi phạm các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn đã được phát hiện, xử lý
Vụ
15
12
Số người bị phát hiện đã vi phạm các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn
Người
2
13
Số người vi phạm các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn đã bị xử lý lỷ luật
Người
2
14
Số người vi phạm các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn đã bị xử lý hình sự
Người
0
15
Tổng giá trị các vi phạm về chế độ, định mức, tiêu chuẩn được kiến nghị thu hồi và bồi thường (nếu là ngoại tệ, tài sản thì quy đổi thành tiền)
Triệu đồng
358
16
Tổng giá trị vi phạm chế độ, định mức, tiêu chuẩn đã được thu hồi và bồi thường
Triệu đồng
358
 
Việc tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức
 
 
17
Số người đã nộp lại quà tặng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị
Người
0
18
Giá trị của quà tặng được nộp lại ) nếu là ngoại tệ, tài sản thì quy đổi thành tiền)
Triệu đồng
0
 
Thực hiện quy tắc ứng xử, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức
 
 
19
Số cơ quan, tổ chức đã được kiểm tra việc thực hiện quy tắc ứng xử cán bộ, công chức
CQ, TC
35
20
Số cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp đã bị xử lý
Người
4
21
Số cán bộ, công chức, viên chức được chuyển đổi vị trí công tác nhằm phòng ngừa tham nhũng
Người
568
 
Thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập
 
 
22
Số trường hợp cán bộ, công chức, viên chức được xác minh việc kê khai tài sản, thu nhập
 
0
23
Số trường hợp bị kết luận kê khai không trung thực
Người
0
 
Trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng
 
 
24
Số người đứng đầu bị kết luận là thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng
Người
0
25
Số người đứng đầu đã bị xử lý hình sự do thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng
Người
0
26
số người đứng đầu đã bị xử lý lỷ luật do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng
Người
0
 
Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán
 
 
27
Số cơ quan, tổ chức đã áp dụng hệ thống tiêu chuẩn ISO trong quản lý hành chính
CQ, TC
4
28
Tỷ lệ % cơ quan, tổ chức đã chi trả lương qua tài khoản trên tổng số cơ quan, đơn vị trực thuộc
%
90%
 
PHÁT HIỆN CÁC VỤ VIỆC THAM NHŨNG
 
 
 
Qua việc tự kiểm tra nội bộ
 
 
29
Số vụ tham nhũng đã được phát hiện qua việc tự kiểm tra nội bộ
Vụ
2
30
Số đối tượng có hành vi tham nhũng được phát hiện qua việc tự kiểm tra nội bộ
Người
3
 
Qua hoạt động thanh tra
 
 
31
Số vụ tham nhũng được phát hiện qua công tác thanh tra
Vụ
10
32
Số đối tượng có hành vi tham nhũng được phát hiện qua công tác thanh tra
Người
27
 
Qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
 
 
33
Số đơn tố cáo về tham nhũng thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức
Đơn
188
34
Số đơn tố cáo về tham nhũng đã được giải quyết
Đơn
186
35
Số vụ tham nhũng được phát hiện thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo
Vụ
4
36
Số đối tượng có hành vi tham nhũng bị phát hiện qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó:
Người
5
 
Qua công tác điều tra tội phạm
 
 
37
Số vụ án tham nhũng (thuộc phạm vi quản lý) đã được cơ quan chức năng khởi tố
Vụ
24
38
Số đối tượng tham nhũng (thuộc phạm vi quản lý) đã bị cơ quan chức năng khởi tố
Người
40
 
XỬ LÝ CÁC HÀNH VI THAM NHŨNG
 
 
39
Số vụ án tham nhũng đã đưa ra xét xử trong kỳ (địa phương thống kê kết quả xét xử của toàn án; bộ ngành thống kê theo kết quả xét xử của tòa án đối với các vụ án xảy ra trong phạm vi quản lý)
Vụ
22
40
Số đối tượng tham nhũng bị kết án tham nhũng (địa phương thống kê kết quả xét xử của toàn án; bộ ngành thống kê theo kết quả xét xử của tòa án đối với các vụ án xảy ra trong phạm vi quản lý)
Người
38
41
Số vụ việc tham nhũng đã được xử lý hành chính
Vụ
1
42
Số cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật hành chính về hành vi tham nhũng
Người
20
43
Số vụ việc tham nhũng đã được phát hiện, đang được xem xét để xử lý (chưa có kết quả xử lý)
Vụ
0
44
Số đối tượng tham nhũng đã đước phát hiện, đang được xem xét để xử lý (chưa có kết quả xử lý)
Người
0
 
Tài sản bị tham nhũng, gây thiệt hại do tham nhũng đã phát hiện được
 
 
45
                + Bằng tiền (tiền Việt Nam + ngoại tệ, tài sản khác được quy đổi ra tiền Việt Nam)
Triệu đồng
1300
46
                + Đất đai
m2
825
 
Tài sản tham nhũng, gây thiệt hại do tham nhũng đã được thu hồi, bồi thường
 
 
47
                + Bằng tiền (tiền Việt Nam + ngoại tệ, tài sản khác được quy đổi ra tiền Việt Nam)
Triệu đồng
1271
48
                + Đất đai
m2
825
 
Tài sản tham nhũng, gây thiệt hại do tham nhũng không thể thu hồi, khắc phục được
 
 
49
                + Bằng tiền (tiền Việt Nam + ngoại tệ, tài sản khác được quy đổi ra tiền Việt Nam)
Triệu đồng
 
50
                + Đất đai
m2
 
 

 

UBND tỉnh

Bản đồ hành chính

Thông tin thời tiết (18-05-2012)

KV phía tây tỉnh (Chư Pah, Ia Grai, Chư Prông, Chư Sê, Chư Pưh, Đak Đoa, Đức Cơ và TP. Pleiku) Mây thay đổi, ngày nắng, chiều tối và đêm có mưa rào và dông vài nơi. Gió đổi hướng cấp 2 cấp 3. Nhiệt độ từ 22-330C
KV đông-đông bắc tỉnh (các huyện Mang Yang, Đak Pơ, Kbang, Kông Chro và thị xã An Khê) Mây thay đổi, có mưa rào và dông vài nơi về chiều tối và đêm. Ngày trời nắng. Gió đổi hướng cấp 2, cấp 3. Nhiệt độ từ 22-340C
KV đông nam tỉnh (Các huyện Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa và thị xã Ayun Pa) Mây thay đổi, ngày trời nắng nóng, chiều tối và đêm có dông và mưa rào vài nơi. Gió nhẹ. Nhiệt độ từ 23-370C