Theo yêu cầu của Bộ Nội vụ tại văn bản số 3784/BNV-CQĐP ngày 24/10/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai báo cáo tổng kết việc thi hành các quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức HĐND&UBND năm 2003 trên địa bàn tỉnh như sau:
I. Tổng kết thi hành các quy định của Hiến pháp năm 1992 trong tổ chức và hoạt động của HĐND&UBND các cấp:
1. Những kết quả đạt được từ thực tiễn thi hành các quy định của Hiến pháp năm 1992 trong tổ chức và hoạt động của HĐND&UBND các cấp:
a) Đối với HĐND:
HĐND các cấp trong tỉnh đã phát huy vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân;
Trong các kỳ họp, HĐND đã phát huy trí tuệ tập thể, dân chủ thảo luận để quyết những vấn đề quan trọng của địa phương, góp phần duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định, quốc phòng được tăng cường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, chính quyền các cấp được củng cố, kiện toàn, bộ mặt đô thị và nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên. Các Nghị quyết HĐND thông qua đạt được sự thống nhất cao, có chất lượng, phù hợp tình hình thực tế địa phương và có tính khả thi, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực ở địa phương, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri.
Thường trực HĐND các cấp đã xây dựng nội dung, chương trình giám sát hàng năm, từ đó tạo sự chủ động cho Thường trực, các Ban, đại biểu và các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc tham gia hoạt động giám sát. Chính vì vậy, hoạt động giám sát đã và đang từng bước đi vào nề nếp, có chương trình, kế hoạch cụ thể ở từng thời điểm. Kết quả giám sát của HĐND đã có tác động tích cực trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương, phản ánh thực tế từ cơ sở; làm căn cứ để HĐND yêu cầu các cơ quan, đơn vị có biện pháp giải quyết, điều chỉnh cho phù hợp.
b) Đối với UBND:
Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức HĐND&UBND năm 2003, hiện nay ở tất cả các cấp hành chính của tỉnh Gia Lai (bao gồm ở tỉnh, 17 huyện, thị xã, thành phố và 222 xã, phường, thị trấn) đều tổ chức HĐND&UBND.
Với vị trí, vai trò là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, do HĐND cùng cấp bầu ra, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan Nhà nước cấp trên; UBND có chức năng chấp hành hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp, nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn, đồng thời thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương, góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; có cơ cấu tổ chức gồm có Chủ tịch, các Phó chủ tịch và một số uỷ viên (số lượng uỷ viên UBND có sự khác nhau ở từng cấp hành chính); về hoạt động, UBND làm việc theo chế độ tập thể, những vấn đề chủ yếu, quan trọng của quản lý điều hành được UBND thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Trong hoạt động công tác, UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp Luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp, đồng thời phối hợp với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân để động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương.
Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND, Chủ tịch UBND tập trung, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm đồng thời vẫn bảo đảm bao quát toàn diện trên các mặt hoạt động ở địa phương; phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công tác quản lý nhà nước, đạt được những thành tựu quan trọng về mọi mặt. Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh; chính sách dân tộc, tôn giáo cơ bản được đảm bảo, văn hóa truyền thống của các dân tộc được gìn giữ và phát huy; ngăn chặn có hiệu quả hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết, an ninh - quốc phòng được giữ vững; đội ngũ cán bộ được kiện toàn và ngày càng nâng cao chất lượng hoạt động.
2. Những bất cập, khó khăn, vướng mắc; nguyên nhân và đề xuất kiến nghị:
Thời gian qua, nhìn chung HĐND&UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã phát huy tốt được vị trí, vai trò, trách nhiệm được giao. Tuy nhiên do chưa lường tính hết được những khó khăn, phức tạp và đa dạng trong việc tổ chức quản lý địa phương, chưa nhìn nhận và thấy hết được sự khác biệt cơ bản về tính chất giữa các đơn vị hành chính cơ bản (tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn, xã), với các đơn vị hành chính trung gian (quận, huyện, phường), giữa đô thị với nông thôn; đặc biệt là chưa nhận thấy hết đặc điểm, tính chất của hoạt động quản lý Nhà nước nên việc tổ chức và hoạt động của HĐND&UBND ở các đơn vị hành chính cũng đã và đang bộc lộ một số khuyết điểm, tồn tại sau:
a) Về vị trí, chức năng của HĐND:
*Về vị trí:
- Điều 119, Hiến pháp 1992 quy định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương… ”.
- Tổ chức và hoạt động của HĐND cần phải xem xét ở hai mặt: hành chính và đại diện. Mặt hành chính của HĐND thể hiện ở hoạt động bảo đảm thi hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật ở địa phương (chấp hành sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực thi Hiến pháp, Luật, các văn bản pháp luật cấp trên…và điều hành của HĐND thể hiện ở việc ban hành nghị quyết); mặt đại diện thể hiện ở vị thế của HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương. Trên thực tế, chức năng về mặt hành chính (chấp hành, điều hành) của HĐND còn thể hiện rất mờ nhạt, còn về chức năng là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương cũng không chính xác, vì HĐND quyết nghị chủ yếu vẫn dựa trên các quy định pháp luật do cơ quan Nhà nước cấp trên ban hành. Do đó, Hiến pháp mới cần sửa đổi về vị trí của HĐND theo hướng HĐND là cơ quan đại diện quyền lực nhà nước ở địa phương là phù hợp.
* Về chức năng:
HĐND thực hiện vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương qua chức năng quyết định và chức năng giám sát. Tuy nhiên, việc thực hiện hai chức năng nêu trên có những bất cập làm hạn chế vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước của HĐND ở địa phương, cụ thể:
- Đối với chức năng quyết định: Điều 120 Hiến pháp 1992 quy định: “…Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước”.
Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, HĐND ra nghị quyết và nghị quyết của HĐND là cơ sở pháp lý để UBND và các cơ quan chuyên môn của UBND tổ chức triển khai thực hiện. Việc soạn thảo và ban hành các Nghị quyết chuyên đề quan trọng của HĐND vẫn theo quy trình chung: Cấp uỷ ra chủ trương, UBND lập đề án, kế hoạch trình HĐND thể chế hoá thành Nghị quyết và giao cho UBND tổ chức thực hiện. Nội dung các Nghị quyết được thông qua tại kỳ họp HĐND do UBND chuẩn bị, các Ban của HĐND thẩm tra nhưng thành viên các Ban của HĐND chủ yếu kiêm nhiệm. Điều này dẫn đến hạn chế là chưa huy động đầy đủ trí tuệ của đại biểu dân cử trong giai đoạn nghiên cứu đề án, kế hoạch; nhiều đề án, kế hoạch, dự thảo nghị quyết không được thảo luận sâu, xem xét kỹ lưỡng nên khi nghị quyết được ban hành còn nhiều hạn chế… Quy trình UBND đề xuất nội dung, chuẩn bị đầy đủ các văn bản trình HĐND ra Nghị quyết, sau đó UBND tổ chức thực hiện và khi nghị quyết sai, rất khó quy trách nhiệm cho HĐND hay UBND. Do vậy, để thực hiện quyền quyết định của mình, HĐND phải có bộ máy giúp việc và công chức chuyên nghiệp tương ứng với nhiệm vụ được giao.
- Đối với chức năng giám sát còn bất cập, chưa mang lại hiệu quả cao như: Số lượng các cuộc giám sát, chất vấn còn ít, chất lượng thấp, nội dung chung chung chưa đi sâu vào các vấn đề cử tri quan tâm…; Kết luận của Đoàn giám sát chưa được coi trọng, sự tiếp thu, khắc phục còn hạn chế. Nguyên nhân của những hạn chế trên một mặt là do: Các ngành, các cấp chưa nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, chức năng, vai trò, trách nhiệm của HĐND; một bộ phận đại biểu HĐND còn nể nang, ngại va chạm v.v…Mặt khác, giám sát là chức năng rất quan trọng của HĐND, phạm vi rất rộng và đa dạng nhưng chưa được thể chế hóa, không có chế tài bắt buộc đối với việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát. Vẫn còn tình trạng tại nhiều phiên họp của HĐND các đại biểu đã nêu, thảo luận những vấn đề rất nóng bỏng, nhưng sau đó không có kết luận cụ thể và hầu hết bị rơi vào quên lãng.
b) Về nhiệm vụ của HĐND và UBND:
Theo chương IX Hiến pháp 1992, thì HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước, UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Hiến pháp 1992 chỉ xác định vị trí của HĐND và UBND mà chưa quy định nhiệm vụ của HĐND và UBND, trong khi đó đối với các cơ quan Trung ương như Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… lại quy định nhiệm vụ và quyền hạn rất cụ thể trong Hiến pháp.
Vì vậy, đề nghị bổ sung trong Hiến pháp mới quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND, tạo cơ sở pháp lý để sửa đổi Luật tổ chức HĐND và UBND. Đồng thời đề nghị cần quy định rõ những việc chính quyền địa phương được toàn quyền quyết định, những việc trước khi quyết định phải xin ý kiến Trung ương, và những việc phải thực hiện theo quyết định của Trung ương; thực hiện phân cấp, ủy quyền mạnh cho chính quyền địa phương theo luật định. Trên cơ sở đó Quốc hội ban hành Luật về phân cấp, ủy quyền theo hướng quy định chi tiết cho phù hợp với từng thời kỳ.
c) Về nguyên tắc hoạt động:
- Tại Điều 6, Hiến pháp quy định: Quốc hội, HĐND và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trên thực tế, nguyên tắc này áp dụng đối với HĐND là đúng, tuy nhiên đối với UBND đôi khi rất hình thức; nếu thực hiện đúng sẽ dẫn đến làm chậm trong quá trình điều hành hoặc không linh hoạt khi giải quyết các công việc ở địa phương. Thậm chí, có nơi lợi dụng nguyên tắc này để đổ lỗi cho tập thể khi có quyết định sai, từ đó khó truy cứu được trách nhiệm cá nhân. Mặt khác, nguyên tắc này đôi khi làm hạn chế, không phát huy được vai trò, khả năng của người đứng đầu có năng lực trong công tác chỉ đạo, điều hành.
Xuất phát từ thực tế trên, đề nghị thời gian tới cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp như sau:
- Sửa đổi Chương IX Hiến pháp 1992 “HĐND và UBND” thành chương “Chính quyền địa phương”, cho phù hợp với Điều 84 của Hiến pháp và đúng với chức năng của bộ máy quản lý Nhà nước ở địa phương.
- Sửa đổi lại Hiến pháp để tổ chức lại UBND theo hướng chỉ tiếp tục duy trì chế độ Ủy ban ở những đơn vị hành chính cơ bản (tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn, xã) - Nơi có tổ chức HĐND, nhưng phải đổi tên UBND thành Ủy ban hành chính, còn ở những đơn vị hành chính trung gian - Nơi không tổ chức HĐND thì áp dụng chế độ thủ trưởng hành chính như huyện trưởng, quận trưởng, Phường trưởng, thay cho chế độ ủy ban cho phù hợp với vai trò, chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.
- Bổ sung thêm quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND (như các bộ phận khác trong cơ cấu bộ máy tổ chức Nhà nước), tạo cơ sở pháp lý để Luật tổ chức HĐND&UBND cụ thể hóa được đầy đủ, toàn diện lĩnh vực này.
II. Tổng kết thi hành các quy định của Luật HĐND&UBND năm 2003 trong tổ chức và hoạt động của HĐND&UBND các cấp:
1. Những kết quả đạt được từ thực tiễn thi hành các quy định của Luật Tổ chức HĐND&UBND năm 2003 về tổ chức và hoạt động của HĐND&UBND các cấp:
a) Đối với HĐND:
HĐND các cấp trong tỉnh đã phát huy vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân;
Trong các kỳ họp, HĐND đã phát huy trí tuệ tập thể, dân chủ thảo luận để quyết những vấn đề quan trọng của địa phương, góp phần duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định, quốc phòng được tăng cường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, chính quyền các cấp được củng cố, kiện toàn, bộ mặt đô thị và nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên. Các Nghị quyết HĐND thông qua đạt được sự thống nhất cao, có chất lượng, phù hợp tình hình thực tế địa phương và có tính khả thi, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực ở địa phương, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri.
b) Đối với UBND:
Thực tiễn qua quá trình tổ chức và hoạt động, UBND các cấp trong tỉnh Gia Lai đã phát huy vai trò là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Về tổ chức, UBND do HĐND cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên, trong đó nhất thiết Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND. Kết quả bầu các thành viên của UBND được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của UBND tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn. Số lượng thành viên của UBND các cấp được thực hiện theo đúng quy định với chất lượng ngày càng được nâng cao; đa số thành viên UBND đều đảm bảo về trình độ, năng lực chuyên môn và lý luận chính trị, đáp ứng được yêu cầu công tác chỉ đạo, điều hành.
Ngay từ đầu các nhiệm kỳ, UBND các cấp đã chủ động xây dựng Quy chế làm việc và tổ chức triển khai thực hiện cho cả nhiệm kỳ trên nguyên tắc tập trung dân chủ, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề được quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND và các quy định của pháp luật hiện hành.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp ở tỉnh Gia Lai cũng được tổ chức lại theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực. Đến nay ở tỉnh có 18 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; ở cấp huyện có 12 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và ở cấp xã có 07 chức danh công chức chuyên môn thuộc UBND cấp xã theo đúng quy định.
Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND, Chủ tịch UBND tập trung, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm đồng thời vẫn bảo đảm bao quát toàn diện trên các mặt hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương; phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công tác quản lý nhà nước, đạt được những thành tựu quan trọng về mọi mặt.
Trong quá trình hoạt động, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo công tác của UBND, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ TW đến cơ sở. UBND, Chủ tịch UBND với chức năng của mình đã bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch, các giải pháp, biện pháp chỉ đạo điều hành quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn. Mọi công việc của UBND, Chủ tịch UBND được giải quyết đúng phạm vi, thẩm quyền và trách nhiệm đã được phân công theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản (Nghị định) hướng dẫn thực hiện Luật, Pháp lệnh giúp HĐND thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời, Chính phủ kiểm tra HĐND thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên thông qua các Nghị quyết, báo cáo, tham dự kỳ họp của HĐND và tổ chức các Đoàn kiểm tra liên ngành về các vấn đề mà Chính phủ quan tâm. Qua kiểm tra cho thấy, HĐND đã thực hiện tốt các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên.
UBND cũng đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Thường trực HĐND trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các Nghị quyết của HĐND; Tạo điều kiện thuận lợi để HĐND và đại biểu HĐND giám sát hoạt động của các cơ quan và UBND các cấp. Trong các kỳ họp của HĐND, Chủ tịch UBND và người được phân công đã báo cáo, trả lời chất vấn những vấn đề mà Đại biểu và cử tri quan tâm để cử tri trong tỉnh hiểu đúng, hiểu rõ tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh và hoạt động chỉ đạo điều hành của UBND, Chủ tịch UBND; nhất là đối với việc thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm, những vấn đề gây bức xúc trong dư luận xã hội.
UBND, Chủ tịch UBND đã ban hành các Quyết định, Chỉ thị và các văn bản chỉ đạo điều hành phục vụ kịp thời công tác quản lý nhà nước trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tạo thuận lợi cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, đoàn thể, người dân và doanh nghiệp. Hầu hết văn bản của UBND đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền, phù hợp yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và yêu cầu quản lý, điều hành.
UBND, Chủ tịch UBND chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động theo quy chế làm việc của UBND; đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND và từng thành viên UBND. Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, UBND đều thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.
2. Những bất cập, khó khăn, vướng mắc; nguyên nhân và đề xuất kiến nghị:
a) Đối với HĐND:
Trên cơ sở thực hiện các quy định của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, hoạt động của HĐND trong thời gian qua còn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn kịp thời, từ đó góp phần đảm bảo chất lượng hoạt động của HĐND.
Như tại phần 2 mục I đã phân tích, chức năng quyết định và chức năng giám sát của HĐND trên thực tế còn có nhiều hạn chế, bất cập.
Tại Điều 55 Luật tổ chức HĐND và UBND quy định: Các Ban của HĐND có những nhiệm vụ và quyền hạn: “Thẩm tra các báo cáo, đề án…; giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, …hoạt động của cơ quan nhà nước,…”. Nhưng trên thực tế, nhiều thành viên của các Ban là cán bộ của cơ quan hành chính Nhà nước kiêm nhiệm đại biểu HĐND tỉnh, huyện; vì vậy, các Ban của HĐND khó có thể thực hiện việc thẩm tra, giám sát một cách khách quan.
Như vậy, chức năng quyết định và chức năng giám sát của HĐND là hai chức năng quan trọng, tạo nên quyền lực nhà nước ở địa phương của HĐND. Hai chức năng này có tác dụng tương hỗ lẫn nhau; thực hiện tốt chức năng giám sát sẽ giúp đảm bảo hiệu lực, hiệu quả đối với các quyết định của HĐND. Để HĐND thực hiện tốt các chức năng này, đề nghị Hiến pháp mới cần quy định các Ban của HĐND và thành viên của các Ban làm việc theo chế độ chuyên trách (tương tự như các Ban của Quốc hội); đồng thời quy định chặt chẽ, cụ thể để bảo đảm quyền, hiệu lực công tác giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương.
b) Đối với UBND:
Tại Điều 2, Luật Tổ chức HĐND và UBND quy định: UBND do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. Như vậy, UBND chịu trách nhiệm “song trùng”, vừa là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, vừa chấp hành chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên. Trên thực tế thực hiện quy định này có nhiều vướng mắc: Những Nghị định của Chính phủ hoặc Thông tư của Bộ quy định UBND tỉnh phải trình HĐND cấp tỉnh ban hành Nghị quyết, để UBND tỉnh ra Quyết định thực hiện (Thông tư có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký), nhưng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 6 tháng họp 01 lần. Như vậy, trong khoảng thời gian giữa các kỳ họp của HĐND thì văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương mặc dù đã có hiệu lực vẫn chưa được thi hành. Vấn đề này không chỉ vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN mà còn thiệt thòi cho tổ chức, công dân (đối với những văn bản có quy định liên quan đến quyền lợi của tổ chức, công dân).
Tại Điều 3, Luật Tổ chức HĐND và UBND quy định: HĐND và UBND tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trên thực tế, nguyên tắc này áp dụng đối với HĐND là đúng, tuy nhiên đối với UBND đôi khi rất hình thức. Theo quy định một số ủy viên UBND được bố trí theo cơ cấu cứng, là những người đứng đầu các cơ quan chuyên môn của UBND, nên không có điều kiện và khả năng tham gia vào các hoạt động chung của tập thể, cũng như không thể thay mặt Chủ tịch UBND trong chỉ đạo điều hành. Bên cạnh đó chế độ quyết định tập thể trong một số trường hợp chỉ mang tính hình thức (những trường hợp cấp bách yêu cầu phải giải quyết ngay, không thể chờ đợi) và rất khó xác định trách nhiệm trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ.
- Đề nghị nghiên cứu, sửa đổi Luật Tổ chức HĐND&UBND thành Luật Tổ chức chính quyền địa phương và sửa đổi các Nội dung trong Luật để tổ chức lại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương (UBHC đối với những nơi có tổ chức HĐND và Thủ trưởng hành chính như Huyện trưởng, Quận trưởng, Phường trưởng ở những nơi không tổ chức HĐND) theo hướng:
+ Đối với Ủy ban hành chính: Cần giảm thiểu thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể UBHC, tăng đáng kể thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch UBHC, theo đó tập thể UBHC chỉ quyết định một số rất ít các vấn đề quan trọng nhất thuộc chức năng quản lý hành chính Nhà nước như Quy hoạch, kế hoạch; Ngân sách; An ninh quốc phòng; Địa giới hành chính; Ban hành cơ chế chính sách; còn lại tất cả các vấn đề khác thuộc chức năng quản lý, điều hành của UBHC đều thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu UBHC là Chủ tịch UBHC.
Về tổ chức UBHC nên gồm Chủ tịch, một số Phó chủ tịch, một Ủy viên thư ký và hai ủy viên là Trưởng công an và Trưởng quân sự (vì chức danh ủy viên thư ký ủy ban thật sự cần thiết trong hoạt động hàng ngày của UBHC, nhất là trong việc giúp Chủ tịch UBHC điều phối các hoạt động hàng ngày của UBHC và giải quyết các công việc có tính chất dịch vụ hành chính thuộc chức năng, nhiệm vụ của UBHC, còn hai lĩnh vực quân sự và an ninh là hai lĩnh vực quan trọng và nhất nhạy cảm, cần có sự quan tâm và trách nhiệm rất lớn của chính quyền địa phương nên cũng cần có sự tham gia của người đứng đầu hai lĩnh vực này với tư cách là ủy viên UBHC).
Về phương thức hoạt động thì UBHC thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề thuộc thẩm quyền trách nhiệm của tập thể UBHC; còn Chủ tịch UBHC trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình; trong đó đối với những vấn đề quan trọng và phức tạp, trước khi quyết định Chủ tịch cần trao đổi, thảo luận trong tập thể ủy ban nhưng không biểu quyết và những ý kiến của tập thể ủy ban chỉ có giá trị tham khảo, không mang tính ràng buộc đối với Chủ tịch UBHC; Các phó chủ tịch và ủy viên UBHC thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo sự phân công của Chủ tịch và chịu trách nhiệm cá nhân trước chủ tịch và trước pháp luật (không chịu trách nhiệm trước UBHC cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên); tất cả các thành viên Ủy ban phải chịu trách nhiệm tập thể đối với các quyết định thuộc thẩm quyền của tập thể UBHC.
+ Đối với Thủ trưởng hành chính (huyện trưởng, quận trưởng, Phường trưởng): Thay thẩm quyền trách nhiệm tập thể của UB bằng thẩm quyền trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan hành chính, có toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân đối với các vấn đề thuộc chức năng, quyền hạn của cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.
Về tổ chức bộ máy chính quyền gồm có người đứng đầu (huyện trưởng, quận trưởng, phường trưởng), các phó của người đứng đầu và bộ máy chuyên môn giúp việc.
Về phương thức hoạt động, người đứng đầu tự quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân trực tiếp trước HĐND, cơ quan nhà nước cấp trên và pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Khi triển khai thực hiện nhiệm vụ, để đảm bảo tính khách quan, chính xác, khả thi của các quyết định, người đứng đầu cần có cơ chế tham khảo ý kiến của các cấp phó và của người đứng đầu các cơ quan chuyên môn thông qua các cuộc họp tập thể với những người có liên quan theo định kỳ hoặc đột xuất. Các cấp phó của người đứng đầu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo sự phân công của người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước người đứng đầu và trước pháp luật (cũng không chịu trách nhiệm trước UBHC cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên).
- Đề nghị có quy định chế tài bắt buộc đối với các cơ quan Nhà nước trong việc phối hợp với các cơ quan liên quan khi xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm, tránh chồng chéo, mâu thuẫn với các ngành, lĩnh vực khác.
Trên đây là báo cáo tổng kết việc thi hành các quy định về tổ chức hoạt động của UBND theo Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức HĐND&UBND năm 2003 trên địa bàn tỉnh Gia Lai, UBND tỉnh Gia Lai kính báo cáo Bộ Nội vụ nghiên cứu, tổng hợp trình Chính phủ./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Hoàng Công Lự